18 ĐỜI VUA HÙNG?
Banner mobi
LOGO Dòng họ
Từ đường 2020
Đền Côi 4.2020
Bình minh Quê hương
Cổng Từ đường, tháng Giêng 2019
Quang Chiêm thôn Nguyễn Bá tộc
Thắp hương cho Mộ tổ ( Tháng Giêng năm 2007)
Từ đường 2007
Cuốn Gia phả, 2020
Cầu Đò Trai
Các ông bà đời thứ 11 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007.
Cổng Từ Đường
Hoa Sen
Các cháu đời thứ 12 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007
Các cháu đời thứ 13 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007
Rằm tháng Giêng 2019
Bến Đình
Hoa Sen
ĐỀN CÔI QUANG TIẾN, 2019
Chào mừng bạn ghé thăm website chính thức của dòng họ Nguyễn Bá thôn Quang Chiêm
Thứ sáu : 2026-10-23 05:07:58
18 ĐỜI VUA HÙNG?

18 ĐỜI VUA HÙNG? TẠI SAO CHỈ CÓ 1 NGÀY GIỖ?

 

Truyền thuyết truyền lại rằng, các vua Hùng nối nhau trị vì nước Văn Lang trong 1 đời, vậy 18 đời đó có những ai?

Hùng Vương là cách gọi dành cho các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt, triều đại được cho là được lập ra hơn 4.000 năm trước. Câu chuyện các vua Hùng không có trong chính sử mà nằm trong các truyền thuyết dân gian của người Việt được kể lại qua nhiều đời. Với người Việt Nam, các vua Hùng đại diện cho tổ tiên, cho truyền thống dựng nước và là niềm tự hào về nền văn minh đậm đà bản sắc riêng suốt nhiều nghìn năm.

 

Vua Hùng

 

18 đời vua Hùng gồm những vị nào?

Theo Đại Việt sử lược và nhiều tài liệu khác, triều đại Hùng Vương được truyền qua 18 đời, gồm những vị sau.

1. Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tức Lục Dục Vương, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr. TL) lên ngôi năm 41 tuổi, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 tr. TL) đến Đinh Hợi (2794 tr. TL).

2. Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 tr. TL), lên ngôi 33 tuổi, ở ngôi tất cả 269 năm, từ năm Mậu Tý (2793 tr. TL) đến năm Bính Thìn (2525 tr. TL).

3. Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr. TL) lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi 272 năm, từ năm Đinh Tỵ (2524 tr. TL) đến 2253 tr. TL.

4. Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr. TL), ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr. TL) đến năm Mậu Thìn (1913 tr. TL).

5. Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 tr. TL), lên ngôi khi năm 59 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr. TL) đến Mậu Tý (1713 tr. TL).

6. Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr. TL), lên ngôi khi 29 tuổi, ở ngôi tất cả 81 năm, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr. TL) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr. TL).

7. Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 tr. TL), lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 tr. TL) đến năm Kỷ Tỵ (1432 tr. TL).

8. Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 tr. TL) lên ngôi khi 39 tuổi, ở ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431 tr. TL) đến năm Kỷ Dậu (1332 tr. TL).

9. Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 tr. TL), lên ngôi khi 45 tuổi, ở ngôi tất cả 80 năm, từ 1331 đến 1252 tr. TL.

10. Hùng Uy Vương, húy Hoàng Long Lang, trị vì 90 năm, từ 1251 đến 1162 tr. TL.

11. Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 tr. TL), lên ngôi khi 51 tuổi, ở ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 tr. TL) đến năm Bính Tuất (1055 tr. TL).

12. Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 tr. TL), lên ngôi khi năm 52 tuổi, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Đinh Hợi (1054 tr. TL) đến năm Nhâm Tuất (969 tr. TL).

13. Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr. TL), lên ngôi khi 23 tuổi, ở ngôi tất cả 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 tr. TL) đến Đinh Mùi (854 tr. TL).

14. Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 tr. TL) lên ngôi khi 42 tuổI, ở ngôi tất cả 99 năm, từ 853 đến 755 tr. TL.

15. Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 tr. TL), lên ngôi khi 35 tuổi, ở ngôi tất cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 tr. TL) đến năm Canh Thân (661 tr. TL).

16. Hùng Tạo Vương, húy Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 tr. TL), ở ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 tr. TL) đến năm Nhâm Thìn (569 tr. TL).

17. Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 tr. TL) lên ngôi khi 9 tuổi, ở ngôi tất cả 160 năm, từ năm Quý Tỵ (568 tr. TL) đến năm Nhâm Thân (409 tr. TL).

18. Hùng Duệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 tr. TL), lên ngôi khi 14 tuổi, ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 tr. TL) đến năm Quý Mão (258 tr. TL).

 

Một số hiểu biết về Giỗ tổ Hùng Vương

 

Giỗ tổ Hùng Vương hay còn gọi là lễ hội Đền Hùng là dịp lễ quốc gia nhằm tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn của con cháu Đại Việt trước công lao dựng nước của các vua Hùng.

Đã thành tục lệ quen thuộc, cứ 10/3 âm lịch hàng năm, hàng triệu con dân Việt Nam lại hành hương về mảnh đất Phú Thọ, về với đền Hùng. Tất cả đều náo nức dự lễ hội truyền thống trọng đại của dân tộc.

Nhưng theo truyền thuyết, nước ta có 18 đời vua Hùng. Mỗi đời vua được tính là một triều đại, và có thể có tới vài chục vị vua mỗi đời. Theo các tài liệu lịch sử, nước ta có tới 108 vị vua Hùng.

 

Vậy tại sao giỗ Tổ lại vào 10/3? Chẳng lẽ các vua Hùng đều qua đời vào ngày này?

 

Nói về ngày Giỗ Tổ, sự kiện có từ thời Thục Phán - An Dương Vương, nhằm khẳng định vai trò của thời đại các vua Hùng đã xây dựng giang sơn. Chính vì thế mà hàng năm luôn để một ngày để tưởng nhớ những người đã xác lập và xây dựng lên đất nước - các vua Hùng nói chung.

Tuy nhiên, ngày giỗ này không phải lúc nào cũng là 10/3. Xưa kia, người dân thường tự chọn ngày tốt theo bản mệnh của từng người, và đền thờ các vua Hùng đã luôn nhộn nhịp nô nức suốt cả năm chứ không định rõ ngày nào.

Điều này khiến cho thời gian lễ bái kéo dài liên miên, gây tốn kém tiền của, lại không bày tỏ được lòng thành kính của toàn dân. Chính vì vậy mà Tuần phủ Phú Thọ là ông Lê Trung Ngọc vào năm 1917 đã làm bản tấu trình lên Bộ Lễ, xin định lệ lấy ngày 10/3 âm lịch hàng năm làm ngày Quốc lễ.

Từ đó về sau, cứ vào ngày 10/3 nhân dân cả nước lại hướng về vùng đất Cội nguồn - xã Hy Cương, Lâm Thao, Phú Thọ để tôn vinh công lao của các vị vua Hùng.

 

Theo PHUNUTODAY

...............................................................

 

CÁC VUA HÙNG

1

Nữ Oa, theo truyền thuyết,

Là nữ thần vá trời.

Luôn bay lượn đây đó,

Nửa rồng và nửa người.

Khi thấy thần Bàn Cổ

Khai thiên lập địa xong.

Trên mặt đất đã có

Muông thú và núi sông.

Nhưng vẫn thiếu gì đấy

Để làm nên cuộc đời.

Thiếu trí khôn, tình cảm,

Bà tạo nên con người.

Suốt nhiều ngày vất vả,

Lấy bùn sông Hoàng Hà,

Nữ Oa nặn người đất

Có khuôn mặt giống bà.

Rồi Bà hà hơi ấm.

Hơi Dương thành đàn ông.

Hơi Âm thành người nữ.

Hai chân thay đuôi rồng.

Chẳng bao lâu, mặt đất

Đã có rất nhiều người.

Quanh Bà, họ nhảy múa,

Ca hát và vui cười.

Để người tự sinh sản,

Bà ghép họ thành đôi,

Người nam và người nữ.

Cứ thế tự sinh sôi.

Cũng một phần vì vậy,

Người ta xem Nữ Oa

Là nữ thần sinh sản,

Che chở cho đàn bà.

*

Chợt một tai họa lớn

Đổ xuống đầu loài người.

Thần Cộng Công mưu phản,

Làm thủng một mảng trời.

Nữ Oa phải vác đá

Vá lại mảng trời này.

Những viên đá ngũ sắc.

Cuối cùng, sau nhiều ngày

Bầu trời lại lành lặn.

Cuộc sống của loài người

Lại bình yên như cũ,

Tốt đẹp và xanh tươi.

Bà còn đặt các luật

Về hôn nhân, gia đình.

Dạy người biết chơi nhạc,

Biết chung sống hòa bình.

2

Thần Nông, người kế vị

Thần Nữ Oa sau này,

Được xem là thủy tổ

Dân tộc Việt ngày nay.

Cuốn Đại Việt Sử Ký

Có chép lại như sau:

Trời chia làm hai nửa,

Bắc và Nam đều nhau.

Nửa Bắc của Trung Quốc.

Nửa Nam của chúng ta.

Hai bên núi Ngũ Lĩnh

Quanh năm mây sáng lòa.

Chúng ta thuộc dòng dõi

Của thủy tổ Thần Nông,

Còn gọi là Viêm Đế,

Cao quý bậc tiên rồng.

Cháu của vua Viêm Đế,

Cháu ba đời, Đế Minh,

Khi đi qua Ngũ Lĩnh,

Gặp một nàng tiên xinh.

Họ lấy nhau, sinh hạ

Được hai người con trai.

Đế Nghi là con trưởng.

Lộc Tục, con thứ hai.

Khi ngài chết, con trưởng

Được truyền ngôi Trung Hoa.

Lộc Tục được di chúc

Làm vua phía nước ta.

Ngài bước lên ngôi báu,

Xưng là Kinh Dương Vương.

Đặt tên nước Xích Quỷ,

Theo luân lý, đạo thường.

Rồi ngài lấy con gái

Của Động Đình Hồ Quân,

Sinh con trai, Hồ Lãm,

Sau là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân, ta biết

Đã lấy nàng Âu Cơ.

Sinh ra dân tộc Việt

Tồn tại đến bây giờ.

3

Vua Hùng là tên gọi

Các vị vua Văn Lang

Thuộc tộc người Lạc Việt

Thời xa xưa Hồng Bàng.

Vua Hùng Vương thứ nhât

Là con Lạc Long Quân.

Năm Hai Tám Bảy Chín (trước CN)

Là năm ngài lên ngôi.

Vua cuối, thứ mười tám,

Là vua Hùng Duệ Vương

Năm Hai Trăm Năm Tám

Ngài bị An Dương Vương

Soán ngôi, và tiếp đến

Vua người Hán, Triệu Đà.

Ông vua này thực chất

Cũng là vua nước ta.

Cuốn Lĩnh Nam Trích Quái

Vào cuối đời Nhà Trần

Lần đầu tiên nhắc đến

Truyền thuyết Lạc Long Quân.

Sách ghi rõ tên tuổi

Mười tám vị Hùng Vương.

Mỗi vị hơn trăm tuổi.

Có vẻ không bình thường.

Cuốn Thái Bình Quảng Ký

Và sử liệu Trung Hoa

Cũng nhiều lần nhắc đến

Các vua Hùng nước ta.

Nước Văn Lang thời ấy

Bao gồm cả Quảng Tây,

Vùng đồng bằng Bắc Bộ

Và Nghệ Tĩnh ngày nay.

Dân, khoảng năm mươi vạn.

Chế độ kiểu “liên bang”,

Hình thành nhà nước mới

Có tên là Văn Lang.

Kinh đô nhà nước ấy

Ở Phú Thọ, Phong Châu.

Vua Hùng mười tám vị

Cai trị nối tiếp nhau.

Nước có mười lăm bộ,

Giống huyện quận ngày nay,

Đứng đầu là Lạc Tướng.

Bên dưới các bộ này

Có rất nhiều chiềng, chạ,

Tương đương như xã, làng,

Đứng đầu là Bồ Chính,

Chức quan thời Văn Lang.

Nhà nước chưa có luật,

Cả quân đội cũng không.

Mỗi khi có chiến sự,

Các trai tráng một lòng

Theo lệnh vua chiến đấu.

Lạc Tướng luôn dẫn đầu.

Chăm lo việc chính sự

Có các quan Lạc Hầu.

Kiểu cha truyền con nối,

Các vua lên ngai vàng.

Mỵ Nương là công chúa.

Hoàng tử là Quan Lang.

4

Là một nước nông nghiệp,

Người Văn Lang bấy giờ

Giỏi về canh tác lúa,

Biết dệt vải, thêu thùa.

Chiếc trống đồng Ngọc Lũ,

Phát hiện ở Hà Nam

Và một số trống khác

Cũng người thời ấy làm.

Họ còn biết dùng sắt

Đúc vũ khí, lưỡi cày.

Đánh cá, nuôi gia súc,

Đóng thuyền và trồng cây.

Vì còn nhiều thú dữ

Nên dân ở nhà sàn.

Nhà làm bằng tre nứa,

Tường là các tấm đan.

Nam giới chỉ đóng khố.

Nữ mặc váy, yếm che.

Chân trần, đầu thường đội

Một vòng lông chim xòe.

Dân Văn Lang thời ấy

Xăm mình, nhuộm răng đen.

Theo chế độ mẫu hệ

Và thờ cúng tổ tiên.

Vào những ngày lễ hội

Họ tổ chức đua thuyền,

Thi giã gạo, làm bánh,

Trong tiếng trống, tiếng kèn.

5

Từ thời xa xưa ấy,

Dẫu sơ khai, Văn Lang,

Đã là nước độc lập

Quan hệ với lân bang.

Khâm Định Việt Sử chép,

Dẫu chưa đủ, chưa nhiều,

Việc vua Hùng thứ nhất

Đã triều công vua Nghiêu

Một con rùa nghìn tuổi,

Dài ba thước, trên mai

Ghi rõ chuyện trời đất

Khắp vũ trụ, trong ngoài.

Vua Nghiêu cho ghi lại,

Chỉnh lý thêm, rồi vua

Lập thành bộ Quy Lịch.

Tức là bộ Lịch Rùa.

Còn một vua Hùng khác,

Năm Một Một Một Không

Sai sứ sang Trung Quốc

Tặng vua Chu, Chu Công,

Một con chim trĩ trắng,

Biết múa hát rất hay,

Đến mức vua, hoàng hậu

Mải mê ngắm suốt ngày.

6

Theo Đại Việt Sử Ký,

Vào cuối thời Hùng Vương,

Vua có một công chúa

Xinh đẹp đến lạ thường.

Hay tin này, vua Thục

Cho người đến cầu hôn,

Nhưng vua Hùng từ chối,

Nhất quyết không gả con.

Vua Thục lấy làm hận,

Thề trả tù, và rồi

Khi cháu ông, Thục Phán

Cuối cùng được lên ngôi,

Ông vua này lập tức

Cất quan đánh Văn Lang.

Vua Hùng thứ mười tám

Không chuẩn bị săn sàng,

Nên đã để mất nước.

Một trang sử đau thương.

Từ đấy vua người Việt

Là Thục An Dương Vương.

Vua Minh Mạng, Nhà Nguyễn,

Lập đến thờ Vua Hùng

Ở phía nam thành Huế,

Cách không xa cố cung.

Hàng năm, theo âm lịch,

Ngày mồng Mười tháng Ba

Trở thành ngày Giỗ Tổ.

Người Việt khắp gần xa

Đều đổ về Phú Thọ

Để khấn vái, thắp hương

Tri ân và tưởng nhớ

Mười tám vị Hùng Vương.

 

Thái Bá Tân

ADMIN (ST)

Chia sẻ:
Video
Copyrights © 2018 DÒNG HỌ NGUYỄN BÁ THÔN QUANG CHIÊM. All rights reserved.
Đang online: 143   |   Tổng truy cập: 2079422
Zalo