ĐỀN NGOÀI THÔN QUANG CHIÊM
Banner mobi
LOGO Dòng họ
Từ đường 2020
Đền Côi 4.2020
Bình minh Quê hương
Cổng Từ đường, tháng Giêng 2019
Quang Chiêm thôn Nguyễn Bá tộc
Thắp hương cho Mộ tổ ( Tháng Giêng năm 2007)
Từ đường 2007
Cuốn Gia phả, 2020
Cầu Đò Trai
Các ông bà đời thứ 11 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007.
Cổng Từ Đường
Hoa Sen
Các cháu đời thứ 12 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007
Các cháu đời thứ 13 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007
Rằm tháng Giêng 2019
Bến Đình
Hoa Sen
ĐỀN CÔI QUANG TIẾN, 2019
Chào mừng bạn ghé thăm website chính thức của dòng họ Nguyễn Bá thôn Quang Chiêm
Thứ sáu : 2026-10-23 04:19:55
ĐỀN NGOÀI LÀNG QUANG CHIÊM

ĐỀN NGOÀI LÀNG QUANG CHIÊM

 

 

Đền Ngoài là một ngôi đền cổ kính và linh thiêng, tọa lạc ở ngoài làng Quang Chiêm (cũ), nay là thôn Quang Tiến, xã Thanh Bình Thịnh; nằm về hướng Tây Nam thuộc đất của làng. Ngày xưa, vị trí của ngôi đền thuộc thôn Quang Chiêm, xã Quang Chiêm, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (theo các sắc phong ghi), nay là thôn Quang Tiến, xã Thanh Bình Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Ngôi đền nằm ngoài làng nên người dân ở đây gọi là đền Ngoài; nằm cạnh bờ Bắc nhánh kênh nhà Lê, con sông chở đầy nước ngọt, êm ả chảy qua những xóm làng bình yên; tháng ngày, mực nước của sông lên xuống theo thủy triều. Con sông tuy hẹp nhưng uốn lượn như dải lụa mềm từ dãy Trà Sơn (Khe Lang), chảy xuôi qua nhiều xã trong huyện nhà đến Đức Thủy (cũ), lượn vòng bao bọc lấy xóm 1 Đức Thịnh lượn vòng sang qua Thái Yên (cũ), đến Gia Thịnh cầu Đò Trai, tới cống Trung Lương nối với sông La. Nó là nguồn nước cung cấp cho các đồng ruộng của làng xã mà nó đi qua.

Ngôi đền ngoảnh mặt ra hướng Nam, trước cửa là con sông và bên kia sông là cánh đồng lúa của xã Thái Yên; hướng Đông là con sông nhà Lê chảy xuôi và xóm 1 thôn Quang Tiến; hướng Bắc là cánh đồng mênh mông với hai vụ lúa của làng; hướng Tây gần đó có nghĩa trang Nhà Liêu và xa hơn là vùng hạ đức thuộc Đức Thủy.

 

Về thời gian xây dựng và sự linh thiêng của ngôi đền:

 

Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh (1930-2005) có ghi: “Đền được xây dựng vào khoảng năm 1846 (tại khu vực vườn cây phụ lão Quang Tiến hiện nay)” (tr.23). Chúng tôi cho rằng, thông tin này không chính xác, bởi vì năm 1846, là năm triều Thiệu Trị thứ 6 ban sắc cho thần Tam Tòa Thành Hoàng (sắc ban ngày 27/3/1846); trong sắc này có ghi “… đã được ban cấp tặng sắc chuẩn cho thờ phụng. Năm Minh Mệnh thứ 21 gặp đúng đại lễ mừng thọ 50 của Thánh tổ Nhân Hoàng đế (của chúng) ta, nên ra chiếu báu tỏ rõ ơn sâu, lễ long trọng nên tăng thêm phẩm trật”. Nghĩa là trước đó đã có ban sắc rồi nhưng không nói những triều đại nào và năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) cũng đã có sắc cho thần tăng thêm phẩm trật. Như vậy, đền chưa xây mà đã có sắc phong là một điều vô lý! Cho đến bây giờ vẫn chưa xác định được đền Ngoài khởi tạo từ bao giờ nhưng ít nhất phải trước năm 1840 và cũng có khả năng từ thời nhà Lê hoặc trước nữa.

Trong cuốn “Địa chí huyện Đức Thọ, 2004, có ghi: “Thành hoàng làng là thần bảo hộ làng đã được nhân dân thờ từ xưa, khi mới lập làng, được xác nhận là Chính thần, Phúc thần” (tr.443). Nếu ngôi đền này khởi tạo khi mới thành lập làng thì lúc đó là khoảng thời gian năm 1367 (là khoảng thời gian lập làng Quang Chiêm - theo “Lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh”, tr.11).

Ngày nay, ngôi đền chỉ là phế tích. Dự án đường cao tốc Bắc - Nam đi qua khu vực khuôn viên, chiếm một nửa đất của đền và chắn, lấp hẳn đoạn sông phía trước đền, tạo mới một dòng chảy khác dọc theo bên kia đường cao tốc. Khả năng khi hoàn thành dự án này thì mọi dấu vết của ngôi đền này bị xóa sạch.

Về sự linh thiêng của ngôi đền đã được khẳng định trong những sắc phong của các triều đại ban cho thần Tam Tòa: Bảo vệ nước, che chở dân, linh thiêng rõ rệt. Và, nhân dân đồng lòng suy tôn Thành hoàng làng; được ghi nhận trong sắc là Thần Thành hoàng, trở thành một biểu tượng tâm linh; bởi, chỉ có thần mới có thể giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt; giúp cho cuộc sống của dân làng ngày một thêm ổn định, thịnh vượng. Tín ngưỡng thờ thần Thành hoàng làng là nét đẹp văn hóa truyền thống được trao truyền qua các thế hệ, ví như “điểm tựa” tâm linh của mỗi làng quê.

Mấy lần tôi về làng, nghe người dân kể lại, khi dự án đường cao tốc thi công đến khu vực khuôn viên của đền thì lần nào cũng xẩy ra sự cố (máy ủi, máy cẩu… lại gần khu vực đó đều bị chết máy) hay Hội Phụ lão thôn bán số cây bạch đàn cho dân, hai người đốn hạ cây đều bị tai nạn phải nhập viện rồi “bỏ của chạy lấy người”… Sau phải mời thầy đến cúng nhiều lần mới yên được. Tôi không tin những chuyện này vì không mục sở thị hoặc được gặp trực tiếp những người trong cuộc mà chỉ nghe người dân sống gần đó chia sẻ lại.

Tuổi thơ của tôi gắn rất nhiều kỷ niệm với làng quê, là một đứa trẻ tinh nghịch, đi lại nhiều nơi từ làng trên xóm dưới, trưa hè vào cả trong các đền chùa chơi, không hề biết chốn linh thiêng hay biết sợ là gì. Nhưng trong ký ức của tôi, không hình dung được ngôi đền Ngoài. Chỉ biết ở đó có các móng nền nhà với bờ tường nham nhở, nát mủn và có vườn cây bạch đàn vươn cao của các cụ phụ lão trong thôn tạo ra. Có thời gian, hợp tác xã nông nghiệp Quang Tiến đặt một máy bơm nước do cụ Lê Đình Sức phụ trách ở cạnh đền. Máy bơm lấy nước từ con sông nhà Lê trước cửa đền để cung cấp cho cánh đồng lúa của thôn.

 

Về việc vị thần được thờ trong ngôi đền Ngoài:

 

Đền thờ thần Tam Tòa Đại vương Thượng đẳng thần Uy minh vương Lý Nhật Quang (Theo các sắc phong).

Lý Nhật Quang (李日㫕) là con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ và mẹ là Linh Hiển Hoàng hậu, cháu ngoại của vua Lê Đại Hành. Người nổi tiếng thông minh từ nhỏ, 8 tuổi biết làm thơ, 10 tuổi tìm hiểu kinh sử (thần phả đền Thượng, xã Xuân Giang, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) nên được vua cha và hoàng tộc chăm lo dạy dỗ để sớm trở thành rường cột của triều đình.

Ngài được anh trai là vua Lý Thái Tông (Lý Phật Mã) cử vào trấn viễn Hoan Châu (Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay) từ thế kỷ XI lo việc thu thuế. Tại đây, Lý Nhật Quang làm việc cần mẫn, thu đủ số thuế được giao và không như các vị tiền nhiệm hà lạm thuế của dân nên Người được tiếng là thanh liêm, chính trực.

Năm 1041, vua Lý Thái Tông phong ông làm Tri châu Nghệ An - tước hiệu là Uy Minh hầu. Những biện pháp quản lý xã hội của Lý Nhật Quang cùng với sự độ lượng và tư tưởng thân dân của Người dần dần đã cảm hoá và quy phục được tất cả mọi tầng lớp nhân dân, làm cho vùng đất vốn phức tạp đã trở nên thuần hậu và thống nhất.

Năm 1044 ông được phong từ tước Hầu lên tước Vương (tước hiệu Uy Minh Vương), đứng đầu trấn Nghệ An, thay nhà vua định đoạt mọi chuyện chính sự tại vùng đất xứ Nghệ.

Những việc làm có tính chất mở đầu ở một vùng biên viễn của Lý Nhật Quang đã đạt đến tầm cỡ của một nhà chiến lược, vừa an dân, vừa tạo dựng tiềm năng, thế mạnh để giữ gìn bờ cõi. Lý Nhật Quang được sử sách ghi nhận là người giản dị, gần gũi với Nhân dân, có công phát triển nông nghiệp, xây đường bộ, đường thủy giao thương với các vùng, mở nhiều trường học, lập các di tích và đền chùa.

Thời gian 16 năm làm việc tại Nghệ Tĩnh, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang xây dựng vùng đất này thành một trọng trấn, pháo đài kiên cố cả về quân sự, kinh tế và văn hóa không chỉ đối với nhà Lý mà cả với các triều đại về sau.

Theo thần phả đền Quả Sơn (Đô Lương, Nghệ An), Người sinh năm 995 SCN và mất ngày 17/8/1057, tại xã Bồi Sơn, Đô Lương. Lý Nhật Quang hy sinh trong một trận chiến với giặc, bị chém ngang cổ nhưng đầu không lìa, đến núi Quả thì ngựa quỵ xuống, ông qua đời.

Người được nhân dân vùng Nghệ Tĩnh tôn làm bậc Thánh và lập đền thờ phụng tại nhiều nơi. Theo thống kê, tại Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa, có hơn 50 đền thờ Lý Nhật Quang. Trong đó, ngôi đền chính nổi bật nhất là đền Quả tại huyện Đô Lương (nơi ông qua đời). Đền Quả được Le Breton (tác giả của “An Tĩnh cổ lục” mệnh danh là “một trong 4 ngôi đền đẹp nhất xứ An Nam”. Ở Hà Tĩnh, riêng huyện Nghi Xuân đã có 4 ngôi đền thờ Ngài; tại xã Ích Hậu, Lộc Hà có đền Cả thờ 3 vị: Lý Nhật Quang, Lý Đạo Thành và Lý Thế Giai (2 vương hầu nhà Lý); xã Việt Tiến, huyện Thạch Hà có đền Nen (đền Tam Tòa Đại vương) thờ Uy Minh vương Lý Nhật Quang đã hơn 600 năm nay; phường Bắc Hồng, thị xã Hồng có đền Bình Lãng thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang…

Thần hiệu Tam Tòa được bắt nguồn từ một ngọn núi tại phường Hải Cảng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Thời Lý, Uy Minh vương Lý Nhật Quang đem quân vào dẹp loạn giúp nước Chiêm Thành, người Chiêm nhớ ơn nên lập đền thờ sống tại nơi ngài đóng quân là núi Tam Tòa. Hiện nay, dưới chân núi Tam Tòa còn có phế tích đền thờ cổ nằm trong làng chài Hải Minh được cho là nơi thờ Uy Minh vương Lý Nhật Quang.

Sang thời Lê sơ, 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành, lại đóng quân ở cửa biển Thị Nại, đã đến miếu Tam Tòa cầu đảo thường được ứng nghiệm. Sau khi hạ được thành Đồ Bàn, bắt sống vua Chiêm, vua phong cho Uy Minh vương làm Thần núi Tam Tòa.

Như vậy, ngôi đền Côi và đền Trửa đều thờ Nhiên thần, còn đền Ngoài thờ Nhân thần (hoàng tử và quan nhà Lý), có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng, lịch triều có mỹ tự bao phong làm Thượng đẳng thần và là thần Thành hoàng. Nhân thần (Thần Người) tức là người chết vẫn hiển linh; “Thác là thể phách, còn là tinh anh” (Truyện Kiều).

 

Về quy mô và kiến trúc của ngôi đền:

 

Đây là một ngôi đền tọa lạc một vị trí rất đẹp, yên tĩnh; trên đền dưới sông, xung quanh cây cối sầm uất.

Cũng không ai nhớ rõ ngôi đền này nó bề thế như thế nào, kiến trúc thuộc thời đại nào. Qua những dấu tích của đền còn sót lại và truyền ngôn của những người cao tuổi trong làng cho hay, ngôi đền tọa lạc uy nghiêm, rất đẹp, thanh thoát nhưng rất gần gũi giữa không gian làng quê; không có cổng nhưng có hai con linh vật chầu hai bên thay cho cổng đền; vào sân đền thấy mỗi bên có một pho tượng to, được chế tác tinh xảo; đền có cả thượng điện và hạ điện, có tượng thần Uy Minh Vương Lý Nhật Quang đặt ở thượng điện. Đồ thờ trong đền gồm long ngai, bài vị, lư hương, mũ, hia, các bộ bát bửu, đao kiếm, đôi liễn, hoành phi, câu đối, cỗ kiệu, hương án… đều có đủ và rất đẹp, chạm trổ rất tinh xảo.

Đền không xây tường bao mà chỉ những bụi cây xung quanh che bọc đền. Ẩn chứa sự linh thiêng ở phía trong.

Cũng như bao ngôi đền khác trong làng Quang Chiêm, mỗi năm có 2 kỳ tế lễ vào mùa Xuân và mùa Hạ. Như trong cuốn sổ chép tay của cụ Bùi Quán viết về các (5) ngôi đền ở làng Quang Chiêm: “Xuân hạ nhị kỳ”. Mỗi năm có hai lần tế lễ vào mùa Xuân và mùa Hạ. Ngày tế cụ thể thì chúng tôi chưa có được thông tin đáng tin cậy.

Sau này, khi chính quyền địa phương có chủ trương nạo vét con sông trước cửa đền, còn cẩu lên cả những trụ cột ngăn dòng chảy không cho lở đất vào phía đền và một số đồ của đền. Do ngâm nước, bùn lâu ngày nên người ta cũng không giữ lại làm gì.

 

Về việc phá dỡ ngôi đền:

 

Theo cuốn Địa chí huyện Đức Thọ, 2004, năm 1950-1951 đã có chủ trương hợp tự, đền thờ Quang Thục Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao ở Đồng Cần, xã Đức Thịnh cũng rước các đồ tế khí, hạc, kiệu… sang đền Thánh Thợ (đền thờ Thánh Lỗ Ban) ở Thái Yên (tr.469). Và tài liệu ghi chép của cụ Bùi Quán, sinh năm 1905 (Bí thư chi bộ Thái Yên đầu tiên, thành lập ngày 01/02/1931): “Tháng 9 năm 1959, triệt hạ 18 cái nhà chùa và các đền để xây dựng trường phổ thông cấp 1 của xã”. Chúng tôi cho rằng, các ngôi đền Côi, đền Trửa, đền Ngoài… đều nằm trong số đó. Ngôi đền ngoài cũng có khả năng bị phá dỡ cuối vào 1959 và những năm 1960.

Ngôi đền bị phá dỡ hoàn toàn, khu đất của đền trong tình trạng bỏ hoang, không ai trông nom đến, một số người dân khai hoang chiếm đất làm cho khuôn viên ngôi đền bị thu hẹp lại. Việc tế lễ thần Thành Hoàng làng coi như chấm dứt.

Thật là đáng tiếc cho ngôi đền đã được vua ban cho vị thần được thờ là Thành hoàng, một biểu tượng tâm linh đã được dân làng thờ từ xưa (có thể là từ khi mới lập làng?). Nó có giá trị to lớn về văn hóa tâm linh, tạo biểu tượng văn hóa cho vùng đất Quang Chiêm.

Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng là nét đẹp văn hóa truyền thống được trao truyền qua các thế hệ, ví như “điểm tựa” tâm linh của mỗi làng quê. Dân ta tin rằng: Đất có Thổ công, sông có Hà bá; cảnh thổ nào phải có Thần Hoàng ấy; vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân. Hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình trở thành hồn cốt văn hóa làng Việt bắt đầu từ đó.

Cũng rất tiếc là không có được bản thần phả của ngôi đền này. Có hay không, hay bị thất lạc, đốt bỏ… đến nay cũng không ai biết được.

Một thời gian sau, Hội Phụ lão của thôn tổ chức trồng cây xanh, chủ yếu là bạch đàn (vườn cây phụ lão thôn Quang Tiến) ở khuôn viên của đền nhưng cũng chỉ được một thời gian, sau đó để cho cây tự sống, tự tồn tại.

Năm 2023, khi Nhà nước có chủ trương làm đường cao tốc Bắc - Nam, con đường đi qua khu đất của đền. Tương lai, sẽ khó mà hình dung ra khuôn viên của khu đền; lúc ấy chỉ tồn tại trong ký ức của những bậc cao niên hoặc những câu chuyện truyền ngôn về đền kiểu “nghe hơi nồi chõ” mà thôi.

 

Về sắc phong và thần tích của thần:

 

Hiện nay, chúng tôi thấy thôn Quang Tiến còn lưu giữ 5 sắc phong của các triều đại nhà Nguyễn; vua ban cho thần từ triều Thiệu Trị đến triều Khải Định.

Triều Thiệu Trị năm thứ sáu, tháng ba và tháng tư (1846), thuộc nhà Nguyễn;

Triều Tự Đức năm thứ bảy (1854), thuộc nhà Nguyễn;

Triều Thành Thái năm thứ hai (1890), thuộc nhà Nguyễn;

Triều Khải Định năm thứ chín (1924), thuộc nhà Nguyễn.

Ngoài ra, còn có một số sắc phong khác, như trong nội dung của sắc phong của Triều Thiệu Trị năm thứ sáu có nêu và tài liệu “Lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh (1930-2005)”, có cập đến triều Đồng Khánh và triều Duy Tân (tr.23) đều ban sắc cho thần ở đền nhưng đến nay chúng tôi chưa tiếp cận được các sắc phong này. Cũng không biết bây giờ các sắc phong còn lại đó đang ở đâu, ai lưu giữ và bảo quản nguồn tư liệu Hán - Nôm giá trị lịch sử và văn hóa này của làng?

Vì điều kiện bài viết không cho phép, chúng tôi chỉ xin giới thiệu 2 bản dịch 2 đạo sắc phong tiêu biểu đầu và cuối triều Nguyễn mà chúng tôi thu thập được dưới đây.

 

SẮC PHONG THẦN TAM TÒA NIÊN HIỆU THIỆU TRỊ THỨ 6 (1846)

 

Sắc Đ.Ngoài1

 

Nguyên văn chữ Nho:

敕匡定三座城隍之神護國庇民稔著靈應明命貳拾壹年値我聖祖仁皇帝五旬大慶節欽奉寳詔覃恩禮隆登秩肆今丕膺耿命緬念神庥可加贈匡定正直之神仍準許羅山縣光瞻社光瞻村依舊奉事神其相佑保我黎民欽哉

紹治陸年叁月貳拾柒日

 

Phiên âm Hán Việt:

 

Sắc Khuông định Tam Tòa Thành hoàng chi thần, hộ quốc tí dân nhẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp tặng sắc chuẩn hứa phụng sự. Minh Mệnh nhị thập nhất niên trị ngã Thánh tổ Nhân Hoàng đế ngũ tuần đại khánh, tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Tứ kim phi ưng cảnh mệnh miến niệm thần hưu, khả gia tặng: Khuông định Chính trực chi thần, nhưng chuẩn hứa La Sơn huyện Quang Chiêm xã Quang Chiêm thôn y cựu phụng sự. Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai!

Thiệu Trị lục niên tam nguyệt nhị thập thất nhật.

 

Dịch nghĩa:

 

Sắc cho vị thần Khuông định Tam Tòa Thành hoàng, bảo vệ nước che chở dân, linh thiêng rõ rệt, đã được ban cấp tặng sắc chuẩn cho thờ phụng. Năm Minh Mệnh thứ 21 gặp đúng đại lễ mừng thọ 50 của Thánh tổ Nhân Hoàng đế (của chúng) ta, nên ra chiếu báu tỏ rõ ơn sâu, lễ long trọng nên tăng thêm phẩm trật. Nay trẫm kế thừa mệnh sáng, trông lại sự che chở của thần, xứng đáng tặng phong là: Khuông định Chính trực chi thần, vẫn chuẩn cho thôn Quang Chiêm xã Quang Chiêm huyện La Sơn phụng thờ như cũ. Thần hãy giúp đỡ, che chở cho dân đen của ta. Kính thay!

Ngày 27 tháng 3 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846)

 

SẮC PHONG THẦN TAM TÒA NIÊN HIỆU KHẢI ĐỊNH THỨ 9 (1924)

 

Sắc Đ.Ngoài2

 

Nguyên văn chữ Nho:

 

敕河靜省德壽府羅山縣光瞻社光瞻村從前奉事原贈匡定正直協相光懿卓 偉翊保中興三座大王上等神謢國庇民稔著靈應節蒙頒給敕封準許奉事肆今正値朕四旬大慶節經攽寳詔覃恩禮隆登秩特準依舊奉事用誌國慶而申祀典欽哉

啟定玖年柒月貮拾伍日

 

Phiên âm Hán Việt:

 

Sắc Hà Tĩnh tỉnh Đức Thọ phủ La Sơn huyện Quang Chiêm xã Quang Chiêm thôn tòng tiền phụng sự nguyên tặng: Khuông định Chính trực Hiệp tướng Quang ý Trác vỹ Dực bảo Trung hưng Tam Tòa Đại vương Thượng đẳng thần, hộ quốc tý dân nhẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trị trẫm tứ tuần đại khánh, tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai!

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

 

Dịch nghĩa:

 

Sắc cho thôn Quang Chiêm xã Quang Chiêm huyện La Sơn phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh từ trước tới nay thờ phụng vị Thượng đẳng thần Tam Tòa Đại vương vốn được ban mỹ tự là: Khuông định Chính trực Hiệp tướng Quang ý Trác vỹ Dực bảo Trung hưng, bảo vệ nước, che chở dân, linh thiêng rõ rệt, đã được ban tặng sắc phong chuẩn cho thờ phụng. Nay gặp đúng đại lễ mừng thọ 40 tuổi của trẫm, nên ra chiếu báu tỏ rõ ơn sâu, lễ long trọng nên tăng thêm phẩm trật. Đặc biệt chuẩn cho phụng thờ như cũ, để nhớ ngày vui của nước mà kéo dài phép thờ tự. Kính thay!

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9.

 

Các sắc phong về sau, các triều ban tặng thêm cho một hay nhiều mỹ tự, ca ngợi công đức của thần được thờ trong đền và chuẩn cho thôn Quang Chiêm xã Quang Chiêm huyện La Sơn phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh từ trước tới nay thờ phụng vị tôn thần Tam tòa Đại vương Thượng đẳng thần, tiếp tục phụng thờ Thần như cũ. Các sắc cũng khẳng định đây là một vị thần bảo vệ nước, che chở dân, linh thiêng rõ rệt đã được ban cấp tặng sắc chuẩn cho thờ phụng.

 

Đền Ngoài là một ngôi đền vẻ cổ kính, uy nghiêm, trầm mặc và rất thiêng. Đền không biết được khởi tạo từ bao giờ nhưng ít nhất phải trước năm 1840 và cũng có khả năng từ thời nhà Lê hoặc trước nữa. Đây là ngôi đền đã được vua phong cho vị thần được thờ là Thành Hoàng, đại diện cho vua cai quản các thần và dân chúng trong làng, một biểu tượng tâm linh đã được dân làng suy tôn phụng thờ từ xưa. Nó có giá trị to lớn về văn hóa tâm linh, tạo biểu tượng văn hóa cho vùng đất Quang Chiêm.

 

Đền thờ thần Tam Tòa Đại vương Thượng đẳng thần Uy minh vương Lý Nhật Quang, là con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ và mẹ là Linh Hiển Hoàng hậu, cháu ngoại của vua Lê Đại Hành.

 

Thần có công rất lớn với vùng đất Nghệ Tĩnh, xây dựng vùng đất này thành một trọng trấn, pháo đài kiên cố cả về quân sự, kinh tế và văn hóa không chỉ đối với nhà Lý mà cả với các triều đại về sau.

 

Với nhiều lý do, ngôi đền bị phá dỡ hoàn toàn và chỉ còn lại là phế tích và nay Dự án đường cao tốc Bắc - Nam chạy qua nên khuôn viên của ngôi đền cũng không còn.

 

Mặc dù, ngôi đền có giá trị to lớn về văn hóa tâm linh, tạo biểu tượng văn hóa cho vùng đất Quang Chiêm. Nhưng cho đến nay nó chỉ nằm trong tiềm thức của một số người cao tuổi. Và rồi những di sản văn hóa của các triều đại ban sắc cho, những hồn cốt của làng Quang Chiêm xưa, những vật báu này sẽ đi về đâu? Thật là nuối tiếc!

 

Điểm đặc biệt của tín ngưỡng thờ Thành hoàng của làng Việt cổ là ở chỗ, dù thời cuộc có biến đổi như thế nào, dù làng có chuyển nơi cư trú bao nhiêu lần, dù chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước có chặt chẽ hay cởi mở, dù dân làng giàu sang hay nghèo túng,… thì nhân vật được làng thờ làm Thành hoàng vẫn không thay đổi, mà tồn tại mãi, suốt đời này qua đời khác.

 

Nếu như có được một lãnh đạo, chính quyền thôn tâm huyết và đầy trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám hy sinh và dám chịu trách nhiệm vì quê hương làng xã, cùng với sự đồng lòng của bà con thôn xóm với hình thức xã hội hóa thì vẫn có thể phục dựng được những gì đã mất. Có thể là một vị trí khác gần đó trong khu vực của thôn Quang Tiến hiện nay và dần dần trả lại những giá trị văn hóa truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc cũng như làng xã mà ngày nay chúng ta cần thừa kế và phát huy.

 

Về chủ trương đã có từ Trung ương đến địa phương: “Ngày nay, với chủ trương của Đảng và Nhà nước: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhằm phát huy giá trị truyền thống văn hóa và lịch sử nên các di tích trên vùng đất Đức Thịnh đang thường xuyên được Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân xây dựng kế hoạch tôn tạo và bảo tồn”, theo lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh (1930-2005).

 

Cũng mong rằng, lãnh đạo địa phương xã nói chung và thôn Quang Tiến nói riêng, “nói được làm được”, “nói đi đôi với làm”… Một ngày không xa sẽ có kế hoạch phục dựng các ngôi đền Trửa và đền Ngoài theo đúng chủ trương của Đảng và nhà nước cũng như lòng mong mỏi của người dân nơi đây.

 

                          

       Ngày 18 tháng 7 năm 2024 (Giáp Thìn niên)

 

    Đại tá, BS CK2, TTUT Nguyễn Bá Hành

 

   Người dịch: Chuyên gia Hán Nôm, Ths. Trần Mạnh Cường

 

 

Tài liệu Tham khảo:

 

1. Thái Kim Đỉnh, Địa chí huyện Đức Thọ, Nxb Lao Động-Hà Nội, 2004

2. Lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh (1930-2005), Nxb Văn hóa Thông tin-Hà Nội 2013

3. Wikipedia Tiếng Việt - Lý Nhật Quang

4. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb Văn học-Hà Nội, 2016

5. Sắc thần ở đền Ngoài của các triều đại ban cho thần Tam Tòa.

6. Bùi Quán, tài liệu “Hồi ký” viết tay

7.  Đi điền dã đến xem trực tiếp vị trí khuôn ngôi đền qua các giai đoạn, những hiện vật liên quan trong khu vực và phỏng vấn nhiều thành viên cao niên và những người liên quan đến ngôi đền trong thôn.

 

Chia sẻ:
Video
Copyrights © 2018 DÒNG HỌ NGUYỄN BÁ THÔN QUANG CHIÊM. All rights reserved.
Đang online: 256   |   Tổng truy cập: 2078631
Zalo