ĐỀN TRỬA LÀNG QUANG CHIÊM
Banner mobi
LOGO Dòng họ
Từ đường 2020
Đền Côi 4.2020
Bình minh Quê hương
Cổng Từ đường, tháng Giêng 2019
Quang Chiêm thôn Nguyễn Bá tộc
Thắp hương cho Mộ tổ ( Tháng Giêng năm 2007)
Từ đường 2007
Cuốn Gia phả, 2020
Cầu Đò Trai
Các ông bà đời thứ 11 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007.
Cổng Từ Đường
Hoa Sen
Các cháu đời thứ 12 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007
Các cháu đời thứ 13 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007
Rằm tháng Giêng 2019
Bến Đình
Hoa Sen
ĐỀN CÔI QUANG TIẾN, 2019
Chào mừng bạn ghé thăm website chính thức của dòng họ Nguyễn Bá thôn Quang Chiêm
Thứ sáu : 2026-10-23 04:19:57
ĐỀN TRỬA LÀNG QUANG CHIÊM

ĐỀN TRỬA LÀNG QUANG CHIÊM

 

Đền Trửa/Giữa (Trửa là cách gọi theo tiếng địa phương) hay còn gọi là đền Trung. Ngôi Đền tọa lạc kề bờ Bắc con sông Nhà Lê, ở đầu xóm 1, phía Đông Nam thôn Quang Tiến, xã Thanh Bình Thịnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Khuôn viên của Đền khá rộng, với diện tích khoảng trên 1ha, vuông vắn; mặt trước ngôi Đền hướng về phía Nam, nhìn ra con sông uốn lượn như dải lụa bao bọc một nửa xóm 1 về phía Đông Nam và len lỏi lên vùng Hạ đức của xã Đức Thủy (cũ); phía Đông, kề bên là Nhà Thánh văn do Hội tư văn làng thờ Khổng tử, tiếp đến là những thửa ruộng lúa và ao hồ xen kẽ men theo bờ sông; phía Tây, gần đó có ngôi đền Ngoài thờ thần Tam Tòa Đại vương Uy Minh vương Lý Nhật Quang và xa hơn là xã Đức Thủy, nay là xã Lâm Trung Thủy; phía Tây là khu dân cư của xóm Trùa/Chùa (một phần của xóm 1 thôn Quang Tiến hiện nay).

 

Có thể, do ngôi đền nằm giữa 2 ngôi đền khác (đền Côi và đền Ngoài) trong làng nên người dân địa phương quen gọi là đền Trửa?.

 

Ngày xưa, ngôi Đền này thuộc làng Quang Chiêm, xã Quang Chiêm, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ (ghi trong sắc phong các triều ban cho Thần). Nay Làng Quang Chiêm, được chia thành thôn Quang Tiến và thôn Quang Chiêm. Khuôn viên ngôi đền thuộc đất của thôn Quang Tiến nhưng di tích chưa kịp xếp hạng trở thành phế tích.

 

 Chúng tôi mục sở thị, khuôn viên này, ở giữa có cái hồ nước đọng khá sâu, 3 phía cây cối mọc lên um tùm, phía còn lại là con đường mới mở và khu đất của nhà Thánh văn. Nó nằm ngay trước gia đình nhà anh Lê Văn Hải (thường gọi là Hải Hà). Ở khu vực đó còn có bến Thánh nằm bên bờ sông nhà Lê, trước đây chỉ có đền Trửa và nhà Thánh văn sử dụng, hiện nay thì dân làng trong vùng sử dụng thường xuyên và làm con đường từ trong làng xuống tận bến.

 

Thời gian xây dựng ngôi Đền này vào triều đại nhà Lê Trung hưng (vị Hoàng đế thứ 66 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam); đó là vị vua Lê Hiển Tông với niên hiệu là Cảnh Hưng (1740-1786), cụ thể hơn là xây dựng trước năm 1783 vì đó là năm phong sắc triều Cảnh Hưng năm thứ 44 cho vị Thần thờ trong ngôi Đền, nhưng không ai biết đền xây dựng chính xác vào năm nào.

 

Trong các sắc phong của các triều đại ban cho thần ở ngôi đền này ghi rõ, Đền thờ thần Tam Lang Hiển thánh Đại vương Thượng đẳng thần (sẽ làm rõ hơn ở phần sau).

 

Thần Tam Lang là gì, thuộc về nhóm thần nào trong thuyết đa thần?

 

Theo cuốn Địa chí huyện Đức Thọ, 2004: “Trong khoảng 100 thần hiện ghi chép được, chúng ta thấy đền, miếu ở Đức Thọ thờ các nhóm thần: Nhiên thần, Thiên thần, Nhân thần”. Trong Nhiên thần có 3 nhóm nhỏ; một trong 3 nhóm nhỏ đó có nhóm thần Sông Biển, thần Nước, và Tam Lang Đại vương, Tam Lang Long vương thuộc trong nhóm nhỏ này (tr.444). Như vậy, vị thần được thờ trong đền Trửa là thuộc thần Sông Biển, thần Nước nằm trong nhóm Nhiên thần.

 

Việc các ngôi đền thờ thần Tam Lang là một trong những tín ngưỡng nguyên thủy của dân tộc Việt Nam. Thần Tam Lang (Thần Rắn). Tín ngưỡng dân gian sơ khai thờ thần Nước là bà Chúa Thủy, qua từng thời kỳ lịch sử, hình thức thờ được mở rộng mang tính tượng trưng như thờ rồng, rắn, hà bá… Tục thờ thần rắn khá phổ biến ở nước ta với mong muốn mưa thuận gió hòa.

 

Ngày xưa, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên và lập nghiệp ở chốn sông nước, cuộc sống gặp nhiều khó khăn, rủi ro cho nên người dân bản địa thường tin vào một đấng siêu nhiên nào đó phù hộ được thiên thời địa lợi. Mỗi làng đều chọn cho mình một vị thần hộ mệnh che chở, bảo vệ dân làng, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm, thiên hạ thái bình.

 

Vùng đất Hà Tĩnh rất nhiều nơi thờ thần Tam Lang, ba con rắn (Tam Lang Long Vương). Hiện nay, chỉ tồn tại ở một số nơi thờ như: Đền Cả (đền Tam Lang) ở xã Ích Hậu, huyện Lộc Hà; Miếu Ao ở thôn Đồng Khánh, xã Thạch Trị, huyện Thạch Hà; Đền Phúc Lai ở làng Phúc Lại, xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn; đền Tam Lang (đền Voi Ngựa) ở xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc…

 

Trong cuốn Địa chí huyện Đức Thọ, 2004, do Thái Kim Đỉnh chủ biên, ở mục “phụ lục 3 về đình-đền-chùa-nhà thờ”, chỉ nêu ra được hai ngôi đền thờ thần Tam Lang, đó là: Đền thờ thần Tam Lang Long vương ở thôn Gia Thịnh, xã Thanh Bình Thịnh và đền thờ thần Tam Lang Đại vương ở xã Thái Yên (cũ), nay là xã Thanh Bình Thịnh (tr.613-623). Do quá trình điều tra không kỹ, chưa nắm bắt hết các tài liệu cổ trong dân, đặc biệt là các sắc phong và thần tích Tam Lang nên còn bỏ sót.

 

Thần Tam Lang cũng như nhiều vị thần khác đều được dân gian nhân cách hóa và có nhiều truyền thuyết khác nhau, mà ngày nay không phải trường hợp nào cũng giải thích được. Về thần tích Tam Lang cũng có rất nhiều thần tích khác nhau.

 

Theo Thái Kim Đỉnh, “Làng cổ Hà Tĩnh”, xuất bản năm 2007, lý giải: “thần Tam Lang Long vương xuất phát từ truyền thuyết thời Hùng Vương. Chuyện kể rằng: Trên một chiếc thuyền ở ngã ba con sông Bạch Hạc (Vĩnh Phú), vợ chồng Trang Hoa (em Hùng Vương thứ 3) đã sinh ra ba chàng rồng, sau này ba chàng làm thủy thần và được gọi là Nhất Lang, Nhị Lang, Tam Lang; Tam Lang là chàng ba - con vua Hùng, được sai làm thủy thần ở sông Bạch Hạc”.

 

Sự tích Tam Lang Long Vương ở Hà Tĩnh, sách Nghệ An phong thổ ký chép: “Xưa ở Chỉ Châu có hai vợ chồng ông Mái, mụ Mái đã luống tuổi mà chưa có con. Một hôm người vợ nhặt được ba quả trứng về nhà, chồng đem bỏ vào cái chậu. Ít lâu sau ba quả trứng nở thành ba con rắn, ông bèn thả xuống ngã ba sông, bỗng mưa gió nổi lên ầm ầm lúc sau mới lặng. Nhưng hôm sau thì ba con rắn trở về quấn quýt bên ông bà, ông đi đâu rắn cũng đi theo.

 

Một hôm, ông ra bờ cuốc ruộng, ba con rắn bò lượn xung quanh tỏ ý rất vui vẻ, nhưng không may ông vô tình cuốc nhằm một con làm đứt đuôi. Ba con rắn cùng bỏ đi ẩn dưới vực Đan Hai. Về sau ba con rắn thành Thần được dân Chỉ Châu lập miếu thờ gọi là Tam Lang Long vương” (theo Minh Xuân).

 

Theo Lê Bá Hạnh, trong bài “Tục thờ thần Rắn làm thành hoàng làng”, đăng trong Báo Hà Tĩnh online, ngày 07/02/2013, cùng quan điểm trên, còn nêu: “Lại có truyền thuyết khác cho rằng: Tục truyền xưa kia có hai vợ chồng nghèo hay thương người, thường ước ao sinh con cho vui cửa vui nhà. Một hôm, vợ đi làm đồng về thấy góc ruộng nhà mình có dấu một bàn chân lạ, bèn đặt chân vào ướm thử, sau về thụ thai, khi sinh nở lại sinh ra một con rắn. Tuy vậy hai vợ chồng rất chăm nuôi, con rắn ngày một lớn, dân làng xa gần nhiều người đến cho lúa cho khoai. Một hôm, người chồng đi đắp bờ, con rắn đi theo và quấn quýt lấy chân, vô tình lưỡi xẻng chắn con rắn thành 3 khúc”.

 

Còn sự tích thần Tam Lang ở đền Cả (xã Ích Hậu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh) kể rằng, ngày xưa có người con gái đẹp như tiên sa xuống tắm sông Kênh Cạn về nhà thấy trong người khác thường rồi thụ thai, sinh ra 3 quả trứng. Dân làng cho là trứng thần bèn bỏ vào chậu nước, đặt bên bờ sông, lạ thay chỉ trong chốc lát 3 quả trứng nở ra 3 con chim, giống như chim Vịt, mào đỏ, mỏ hồng, mình ngũ sắc. Chim vừa nở ra đã biết bơi ngay. Mọi người sợ hãi liền thà 3 con xuống sông. Hàng năm thường thấy sự hiển linh, nhân dân lập đền thờ gọi là đền Tam Lang. Thần Tam Lang - Long Vương - Thần Rắn cũng như các vị thiên thần khác đều được nhân cách hoá mang một hay nhiều lý lịch nhân thế mà ngày nay nhiều trường hợp không giải thích được.

 

Thần Rắn - Long Vương - tục thờ thuỷ thần ở đền Kinh Hạ làm thành hoàng làng đối với người Việt là thần bảo vệ cộng đồng cư dân làng xã. Đầu tiên là cộng đồng công xã nông thôn, dạng sớm nhất, cổ xưa nhất của tục thờ thành hoàng làng là Rắn. Rắn là tổ tiên của người Việt cổ quen sông nước, hoạt động ở vùng nhiệt đới gió mùa. Trong tích cổ của người Việt đã ghi lại việc xăm hình rồng (giao long) của người Việt cổ, đến thời Trần vẫn còn tục đó. Hình tượng tô-tem thần rắn được thần thoại hoá, Hán hoá rồi phong kiến hoá. Thần thoại Âu Cơ và Lạc Long Quân, chính là thần thoại về một cặp rắn - Tổ, đã mượn chuyện thần thoại nhà Đường để diễn tả.

 

Đền thờ thần Tam Lang Đại vương tại Làng Quang Chiêm, xã Thanh Bình Thịnh hiện nay không còn, chỉ là phế tích. Thần tích (Thần phả) Tam Lang ở ngôi đền Trửa không có hoặc bị thất lạc không ai biết do hồi đó có chủ trương hợp tự, phá dỡ, chiến tranh phá hoại… cũng như nhận thức của một số người có trách nhiệm lúc bấy giờ còn yếu kém. Do vậy, cho đến nay chưa rõ sự tích về Thần Tam Lang thờ ở đây như thế nào?.

 

Tiếp xúc nhiều lần với các cụ cao tuổi nhiều thế hệ trong làng, các cụ chia sẻ, ngôi đền Trửa trước đây, rất đường bệ, trên bộ, dưới thủy có cổng chính với hai con linh vật ngự ở trên. Có nhiều cây cối cổ thụ, xanh mát quanh năm. Đền có cả thượng điện và bái đường, có rất nhiều đồ tế khí có giá trị. Trong thượng điện, nơi đặt tượng, ngai vàng, bài vị của thần. Cạnh đó là bái đường đặt nhiều đồ thờ khác như ngũ sự, đài rượu… và các đồ nghi tượng như long kiệu, gươm đao, chiêng trống… cũng là nơi tế tự. Đền rất thiêng và cũng không ít câu chuyện kể lại về sự thiêng liêng của ngôi đền này.

 

Khi tháo dỡ đền, người thì mua lại nhà để ở, phần lớn đồ tế khí đưa sang bên đền Thái Yên, số còn lại người dân lấy về hoặc hư hỏng, đốt bỏ…

 

Cụ Đinh Văn Thảo (sinh năm 1929), ở xóm 1 thôn Quang Tiến, hiện còn tỉnh táo, chia sẻ với chúng tôi, trước đây, hàng năm dân làng tế lễ thần ở đền trửa vào ngày 12 tháng 6 âm lịch. Dân làng tổ chức lễ rước sắc, rước văn (văn tế giao cho người có học vấn uyên thâm biên soạn) long trọng. Dân làng làm cỗ heo, xôi gà, hoa quả… nghi lễ tế thần rất trịnh trọng và nghiêm trang. Tế thần xong, mọi người hạ lễ phẩm, một phần biếu các quan viên, còn lại thì bày cỗ đãi dân làng bá tánh đến thụ lộc của thần. Và cụ Thảo còn chia sẻ thêm, ngày 12/6 âm lịch hàng năm không chỉ có đền Trửa tế lễ mà các đền khác ở thôn đều tế lễ vào ngày đó. Điều này cũng phù hợp với ghi chép trong cuốn Hồi ký của ông Bùi Quán, phần “tập quán, phong tục” có ghi, “thôn Quang Chiêm có đền Cả chung của bản làng, gọi là đền Côi; có 04 đền xóm cũng là đền giáp, hàng năm tế lễ 2 lần xuân hạ nhị kỳ, có ruộng công điền, còn thiếu dân đóng góp hàng năm để tế lễ”.

 

Thường ở các nơi khác hay tế lễ “xuân thu nhị kỳ”, mỗi năm 2 lần vào dịp mùa xuân và mùa thu, nhưng ở làng Quang Chiêm tổ chức vào mùa xuân và mùa hạ.

 

Nhìn chung, tín ngưỡng thờ tế thần là loại di sản văn hóa phi vật thể, có tính nhân văn rất cao, tính kết cấu cộng đồng và thể hiện sự tôn kính trong đạo lý làm người, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “uống nước nhớ nguồn”. Ngày nay, đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, cùng với sự phát triển thịnh vượng, người dân có điều kiện phụng sự và duy trì tín ngưỡng thờ và tế lễ thần ở các đền, miếu mạo… tại các địa phương, không những bảo tồn sắc thái văn hóa truyền thống mà còn mang lại lợi ích kinh tế phát triển ngành Du lịch văn hóa…

 

Tìm hiểu thêm về các ngôi đền trong khu vực tỉnh Hà Tĩnh thờ thần Tam Lang, thì mỗi nơi có những ngày tế lễ khác nhau: Đền Tam Lang (Voi ngựa) ở làng Xuân Mai, Xuân Lộc, Can Lộc có rất nhiều ngày lễ ở đền như Lễ Khai hạ (07/01 AL), lễ Kỳ phúc (15/6 AL), lễ Xá tội vong linh (15/7 AL)…và tổ chức các trò chơi dân gian. Đền Tam Lang (Đền Lớn, đền Cả hay đền Hàng Tổng) ở xã Hậu Lộc, Can Lộc, lễ hội được tổ chức vào ngày mồng 5-6 tháng Giêng hàng năm. Đền Kinh Hạ, thành phố Hà Tĩnh, “Ngày chính lễ Tam Lang Long vương ở Hà Tĩnh gọi là ngày “Kỳ phúc lục ngoạt”, tức là Lễ cầu phúc vào Rằm tháng 6 âm lịch hàng năm”.

 

Với đền Trửa làng Quang Chiêm (cũ), nếu sau này được phục dựng lại, có thể tiếp tục duy trì ngày 12/6 âm lịch làm ngày Lễ Kỳ phúc hàng năm cúng tế thần tại đền hoặc lấy ngày ra Quyết định của Chi bộ thôn Quang Tiến về việc phục dựng lại ngôi đền làm ngày tế lễ… Thông thường, Lễ Kỳ phúc hàng năm được nhân dân địa phương tổ chức rất long trọng, dân làng giết mổ trâu bò, lợn gà dâng tế thần linh cầu nguyện cho mọi người dân yên ổn làm ăn, thoát khỏi hoạn nạn, cuộc sống ấm no, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Đó là nét đẹp văn hóa, là niềm vinh dự và tự hào đã khắc sâu vào tâm khảm bao thế hệ của những ngôi làng Việt.

 

Có lần mấy anh em chúng tôi đi điền dã vào dịp mùa Xuân năm Giáp Thìn (3/2024), đến gặp anh Bùi Hồng Trường ở xóm 5 (làng Gia Thịnh) là cháu nội của cụ Bùi Quán tại nhà anh.

 

Cụ Bùi Quán, sinh năm 1905 tại làng Gia Thịnh, xã Đức Thịnh; là “Bí thư Chi bộ Thái Yên khi thành lập (ngày 1/2/1930)”, theo Lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh (1930-2005), (tr.39).

 

Sau vài lời giới thiệu xã giao, chúng tôi đặt vấn đề về việc tìm hiểu ngôi Đền Trửa của làng Quang Chiêm (cũ) thì anh rất nhiệt tình và với giọng nói nhẹ nhàng, ấm áp, trí nhớ tốt anh say sưa chia sẻ về những câu chuyện mà cha, ông nội nói về ngôi đền này, anh còn cho chúng tôi xem, chụp ảnh lưu toàn bộ cuốn hồi ký và cuốn “Tiểu sử của ông Bùi Quán’ chép tay.

 

Trong cuốn hồi ký có đoạn viết: ‘Tháng 9 năm 1959, triệt hạ 18 cái nhà chùa và các đền để xây dựng trường phổ thông cấp 1 của xã”. Đền Trửa cũng nằm trong số đó, bị dỡ bỏ dần, phần lớn nhà cửa và đồ tế khí được chuyển sang bên Đền Thái Yên.

 

Cụ thể dỡ bỏ Đền xong vào thời gian nào thì chưa rõ, chỉ biết là vào khoảng thời gian từ năm 1959 - 1965. Từ đó, việc tế lễ cũng không còn và những ký ức, nét đẹp văn hóa tâm linh-di sản tài nguyên văn hóa làng xã từ ngôi đền cũng mai một theo thời gian.

 

Cụ Bùi Quán còn ghi, Cụ có mua 03 gian nhà thuộc bái đường của đền Trửa để làm nhà ở vào tháng 10 năm 1959. Người dân gần đó thấy vậy nên cũng không ít người gièm pha nhằm hạ thấp uy tín của Cụ. Cụ mới làm câu thơ:

 

“Xạ bán đền ni trăm sáu chục

Tôi mua nhà ở quán Tam Lang”

(Xạ tức là xã; ni tức là này; Tam Lang ở đây là ngôi Đền thờ Thần Tam Lang)

 

Khi Cụ Quán mất (1980), người tiếp quản là ông Bùi Liên Hiệp (sinh năm 1936), con trai của Cụ Quán và khi ông Hiệp qua đời người thừa hưởng ngôi nhà đó là anh Bùi Hồng Trường (sinh năm 1960). Hiện nay, ngôi nhà ấy vẫn còn và cơ bản tương đối nguyên vẹn, và được chủ nhân dùng làm một phần của xưởng mộc gia đình.

 

Chúng tôi xem thực tế thấy, ngôi nhà 03 gian, được làm bằng gỗ lim, hẹp và thấp nhưng chắc chắn. Mỗi gian 2,2m x 6,5m (tính từ giọt nước). Tổng diện tích nhà là 48,75m2 (kể cả 2 đầu hồi). Cầu phong và mèn cũng làm bằng gỗ lim còn nguyên, mái ngói đã được thay.

 

Ngoài ra, anh Trường còn cho chúng tôi xem, tấm bảng hiệu bằng gỗ, kích thước 143,5 x 46 cm, sơn màu đỏ thẩm có khắc 2 chữ Hán lớn sơn màu vàng, 靈 應, đó là hai chữ LINH ỨNG (Linh thiêng ứng nghiệm), nghĩa là “vì thiêng liêng mà đáp lại lời cầu xin hoặc lòng mong mỏi của người sống” (Từ điển Nguyễn Quốc Hùng) và dòng chữ nhỏ lạc khoản: 維 新戊 申 秋, đó là “Duy Tân Mậu Thân thu” có nghĩa là mùa thu năm Mậu Thân niên hiệu Duy Tân, tức 1908 dương lịch.

 

Anh Bùi Hồng Trường chia sẻ tiếp, gần đây có rất nhiều người đến đặt vấn đề mua lại 3 gian nhà này nhưng anh không bán, nếu thôn Quang Tiến phục dựng lại ngôi Đền Trửa thì anh sẵn sàng hiến ngôi nhà này cho Đền. Một nghĩa cử hết sức cao đẹp và nhân văn.

 

Đủ duyên với những ngôi đền nơi đây, tôi may mắn được tiếp chuyện với cụ Đoàn Thới (sinh năm 1938), ở Thôn Quang Chiêm, Cụ còn khỏe mạnh, nhanh nhẹn và minh mẫn. Cụ là người cất giữ phần lớn sắc phong các triều đại phong cho những ngôi đền ở làng Quang Chiêm đã hơn 40 năm nay từ các đời cha, ông cụ kỵ… trước của dòng họ Đoàn thôn Quang Chiêm truyền sang. Sau những câu chuyện về lịch sử, văn hóa của xóm làng, Cụ đã tin tưởng trao cho tôi 12 sắc phong của 2 ngôi đền (Trửa và Ngoài) để chụp ảnh số làm tư liệu nghiên cứu và bảo tồn. Điều đáng quý nữa là tất cả các sắc phong hầu như còn nguyên vẹn, chỉ có một, vài sắc phong bị rách phía ngoài nhưng nội dung chính vẫn không bị ảnh hưởng.

 

Như chúng ta đều biết, sưu tầm, biên dịch và số hóa các sắc phong - một di văn quan trọng, góp phần gìn giữ mang đến những tư liệu quý về lịch sử, văn hóa địa phương. Sắc phong là một cổ vật có giá trị độc bản. Qua các sắc phong, người ta biết được vị thần được thờ trong đền là ai, công lao, thứ hạng của vị thần đó, còn có thể biết thông tin về hệ thống hành chính với những địa danh và đơn vị hành chính cụ thể.

 

Ngôi đền thiêng này đã được các triều đại phong kiến phong ban nhiều sắc đạo. Hiện nay, thôn Quang Chiêm còn lưu giữ 7 sắc của các triều đại, từ triều Cảnh Hưng năm 44, đến triều Khải Định năm thứ 9

 

Triều Cảnh Hưng năm thứ bốn mươi bốn (1783), thuộc nhà Lê;  

Triều Cảnh Thịnh năm thứ tư (1795), thuộc triều nhà Tây Sơn;

Triều Minh Mệnh năm thứ năm (1824), thuộc triều nhà Nguyễn

Triều Thiệu Trị năm thứ ba tháng 11 (1843), thuộc triều nhà Nguyễn

Triều Thiệu Trị năm thứ ba tháng 12 (1843), thuộc triều nhà Nguyễn

Triều Tự Đức năm thứ ba (1850), thuộc triều nhà Nguyễn

Triều Khải Định năm thứ chín (1924), thuộc triều nhà Nguyễn.

 

Vì điều kiện bài viết không cho phép, chúng tôi chỉ xin giới  thiệu 2 bản dịch 2 đạo sắc phong tiêu biểu triều Lê và triều Nguyễn ở đây.

 

Sắc phong thần Tam Lang niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783)

 

Sắc 1 của Đền trửa
Sắc phong thần Tam Lang niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44

 

Phiên âm:

 

“Sắc Tam lang Thông minh Bác đạt Hùng vĩ anh linh Hiển hựu Tích hỗ Diên hy Tập phúc Đại vương. Anh linh nhất lục, túy hợp lưỡng tham. Thần đức uông dương, tứ hải cửu châu quang bị. Linh thanh hách trạc, nhất lư vạn hộ chiêm y. Biến vu ký xỉ ư Chu văn, tích nhĩ quân ư Hán trật. Vì Tự vương tiến phong vương, vị lâm cư chính phủ, lễ hữu đăng trật, ưng gia phong mỹ tự tam tự. Khả gia phong: Tam lang Thông minh Bác đạt Hùng vĩ anh linh Hiển hựu Tích hỗ Diên hy Tập phúc Hồng huống Long ân Hiển thánh Đại vương. Cố sắc

Cảnh Hưng tứ thập tứ niên thất nguyệt nhị thập lục nhật”.

 

Dịch nghĩa:

 

“Sắc cho vị Tam lang Thông minh Bác đạt Hùng vĩ anh linh Hiển hựu Tích hỗ Diên hy Tập phúc Đại vương. Anh linh gồm thâu 6 thể, tinh túy hợp cả đất trời. Đức thần mênh mông, bốn bể chín châu đều nhận thấy. Linh thiêng rờ rỡ, một nhà trăm cửa thảy trông mong. Công lao phủ khắp như văn nhà Chu, nên tặng phong theo trật triều nhà Hán. Vì Tự vương tiến phong tước vương, ngự vào chính phủ, theo lễ có tăng thêm phẩm trật, nên gia phong 3 chữ mỹ tự, xứng đáng được tặng phong là: Tam lang Thông minh Bác đạt Hùng vĩ anh linh Hiển hựu Tích hỗ Diên hy Tập phúc Hồng huống Long ân Hiển thánh Đại vương. Vậy nên ban sắc!

Ngày 26 tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783)”

 

Sắc phong thần Tam Lang niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924)

 

Sắc 7 đền trửa
Sắc phong thần Tam Lang niên hiệu Khải Định thứ 9

 

Phiên âm:

 

“Sắc Hà Tĩnh tỉnh Đức Thọ phủ La Sơn huyện Quang Chiêm xã Quang Chiêm thôn tòng tiền phụng sự nguyên tặng: Thông minh Bác đạt Diệu hóa Hiển phu Chương cảm Trừng trạm Trác vỹ Dực bảo Trung hưng Tam lang Hiển thánh Đại vương tôn thần, hộ quốc tý dân nhẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trị trẫm tứ tuần đại khánh, tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, trước gia tặng Hoành hiệp Thượng đẳng thần. Đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai!

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật”.

 

Dịch nghĩa:

 

“Sắc cho thôn Quang Chiêm xã Quang Chiêm huyện La Sơn phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh từ trước tới nay thờ phụng vị tôn thần Tam lang Hiển thánh đại vương, vốn được tặng là: Thông minh Bác đạt Diệu hóa Hiển phu Chương cảm Trừng trạm Trác vỹ Dực bảo Trung hưng, bảo vệ nước, che chở dân, linh thiêng rõ rệt, đã được ban tặng sắc phong chuẩn cho thờ phụng. Nay gặp đúng đại lễ mừng thọ 40 tuổi của trẫm, nên ra chiếu báu tỏ rõ ơn sâu, lễ long trọng nên tăng thêm phẩm trật, nên tặng phong là Hoành hiệp Thượng đẳng thần. Đặc biệt chuẩn cho phụng thờ như cũ, để nhớ ngày vui của nước mà kéo dài phép thờ tự. Kính thay!

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9”.

 

Thần Tam Lang được thờ trong đền Trửa được triều đại Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783), phong cho rất nhiều mỹ tự. Trong đó có phong tước Đại vương.

 

Các sắc phong về sau, các triều ban tặng thêm cho một hay nhiều mỹ tự, ca ngợi công đức của thần và chuẩn cho thôn Quang Chiêm xã Quang Chiêm huyện La Sơn phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh từ trước tới nay thờ phụng vị tôn thần Tam lang Hiển thánh Đại vương Thượng đẳng thần, tiếp tục phụng thờ Thần như cũ. Các sắc cũng khẳng định đây là một vị thần thông minh bảo vệ nước, che chở dân, linh thiêng rõ rệt.

 

Vào dịp Trung tuần tháng 5/2024, chúng tôi mục sở thị về ngôi đền Trửa và nhà Thánh văn thêm một lần nữa, gặp những người cao tuổi (theo Who) hay qua lại khu vực này và anh em sống kề khu đất thiêng ngày xưa. Khẳng định thêm, khu đất phía trước của các gia đình nhà ông Bùi Đình Thành, ông Lê Văn Hải và đoạn cuối con đường xuống bến (đường mới làm sau này) đều thuộc khuôn viên của đền Trửa và nhà Thánh văn. Từ trên đi xuống bến, đền Trửa nằm bên phải, nhà Thánh văn nằm bên trái.

 

Theo ông Đinh Văn Thiệu (sinh 1942), là người có thời gian làm việc tại nơi này; bà Phạm Thị Lý (sinh 1944), ở gần đó, hay qua lại khu vực Đền và ông Đinh Văn Sơn (sinh 1953, nguyên là chủ tịch, bí thư xã nhà) cũng có thời gian làm việc ở đây. Các ông bà đều thống nhất với thực tế trên, còn chia sẻ thêm: Vào năm 1966-1975, ở vị trí đó chính quyền địa phương làm trại chăn nuôi của HTX Tiến Thịnh, Đức Thịnh do ông Bùi Tư Túc phụ trách Trại. Năm 1071, ông Đinh Văn Thiệu đi thanh niên xung phong và tháng 8/1972 anh Đinh Văn Sơn đang là nhân viên của trại, tham gia ngập ngũ từ đó. Như vậy, đền Trửa và nhà Thánh bị phá dỡ từ năm 1959 và xong trước năm 1965. Tức là khoảng thời gian 1959-1965 như chúng tôi đã nhận định ở trên. Trong ký ức của tôi cũng không để lại một dấu ấn gì về ngôi đền này, cũng có khả năng ngôi đền bị tháo dỡ xong vào những năm 1959 - 1960?

 

Sau đó một thời gian, chính quyền địa phương tổ chức đào nền thượng điện của Đền lấy đất đắp đường làng, tạo thành một hồ sâu chứa nước đọng, dân quanh đó nuôi vịt rồi sau đó bỏ hoang cho đến tận bây giờ.

 

Diện tích khu vực ngôi Đền bị thu hẹp lại. Hiện nay, không còn một dấu tích gì của đền để lại nơi đây, chỉ còn một khu đất trống, hoang phế, có một hố sâu chứa nước đọng nằm ở giữa và ba phía cây cối mọc um tùm ra sát bờ sông nhà Lê.

 

Khu đất Đền Trửa và nhà Thánh văn đều bỏ hoang, thành những vùng lồi lõm..., nhất là bên phía đất của Đền. Rất cần được địa phương quan tâm, đổ đất nâng nền lên cao, khi đang có Dự án làm đường Cao Tốc gần đó, đất sạch thừa ra rất nhiều, (phía bên dự án đã từng cho xe chở đất để làm sân bóng của thôn, xóm và lấp ao hồ cá nhân…). Đồng thời cho dọn sạch khu đất hoang, sau đó tổ chức Đảng, chính quyền thôn xin phép cơ quan tổ chức có thẩm quyền lập Miếu thờ Thần và sau này có điều kiện tái kiến thiết phục dựng lại ngôi Đền thì cũng dễ dàng hơn.

 

Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh (1930-2005)”, ở trang 23, có đoạn viết: “Làng Quang Chiêm còn có đền Trửa là Nhà Thánh làng do Hội tư Văn làng thờ-tế Khổng Tử”. Chúng tôi cho rằng, đây là thông tin không chính xác, vì đền Trửa thờ Thần Tam Lang, đã được nghi rõ trong 07 sắc phong của các triều đại nhà Lê, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Còn nhà Thánh văn thờ Khổng Tử, mới do Hội Tư văn làng đứng ra lo việc thờ-tế và tôn vinh những người có học vị, đỗ đạt, chức sắc trong làng nhằm giáo dục học thuyết nho giáo; động viên, khuyến khích con cháu trong làng chăm lo học hành, đỗ đạt, như trong văn bia hiện đang chưng ở đền Côi đề cập. Cũng không thấy tài liệu nào nói về việc phối tự ở đây.

 

Qua nghiên cứu, tìm hiểu, khảo sát thực địa hiện trạng di tích, cũng như những thông tin thu thập được từ nhân dân địa phương, dựa vào các sắc phong, bức đại tự, ngôi nhà gỗ lim… được lưu giữ cho chúng ta biết, đền Trửa là một ngôi đền linh thiêng, tọa lạc ở một vị trí đẹp, không lớn lắm nhưng là niềm tự hào về một di tích ghi lại dấu ấn lịch sử, cũng là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh tín ngưỡng của người dân nơi đây và khách thập phương - đền thờ thần Tam Lang Hiển thánh Đại vương Thượng đẳng thần (Đền Trửa/Đền Trung).

 

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ điều kiện sống của con người lại được nâng cao như bây giờ. Và cũng chưa bao giờ, văn hoá lại trở thành mục đích quan trọng như bây giờ. Đặc biệt hơn là chưa bao giờ những người làm ra của cải vật chất cho xã hội lại thấy sự hệ trọng của văn hoá trong chiến lược phát triển của mình như thế. Đó là sự chia sẻ, sự gắn kết, sự giúp đỡ lẫn nhau và mục đích tối cao là làm cho con người có cơ hội hưởng thụ được các giá trị văn hoá.

 

“Ngày nay, với chủ trương của Đảng và Nhà nước: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhằm phát huy giá trị truyền thống văn hóa và lịch sử nên các di tích trên vùng đất Đức Thịnh đang thường xuyên được Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân xây dựng kế hoạch tôn tạo và bảo tồn”, theo lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh (1930-2005).

 

Cũng mong rằng, mọi cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và người dân quán triệt sâu sắc chủ trương trên để sớm tôn tạo ngôi đền Trửa và Đền Ngoài thể hiện nét đẹp văn hóa của người Quang Chiêm (xưa), nay là Quang Tiến hướng về cội nguồn; bảo tồn văn hóa của vùng đất, văn hóa của làng xã. Nét đẹp văn hóa ấy đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân nơi đây từ thế hệ này đến thế hệ khác và ngày càng được cải biến phù hợp với nếp nghĩ, nếp sống của người dân. Luôn mong muốn cho làng mình gắn bó với lịch sử dân tộc và lòng biết ơn “ăn quả nhớ người trồng cây”.

 

Rất mong lãnh đạo, chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm việc phục dựng lại ngôi đền Trửa và nhà Thánh văn và duy trì nét đẹp văn hóa của thôn để tỏ lòng tri ân với các tiền nhân, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” cũng như phục hồi, giữ gìn nét đẹp giá trị văn hóa tâm linh của thôn ta xưa theo đúng chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.

 

 

           Ngày 8 tháng 6 năm 2024 (Giáp Thìn niên)

 

               Đại tá, BS CK2, TTUT Nguyễn Bá Hành

 

   Người dịch: Chuyên gia Hán Nôm, Ths Trần Mạnh Cường

 

Tài liệu Tham khảo:

 

1. Thái Kim Đỉnh, Địa chí huyện Đức Thọ, Nxb Lao Động-Hà Nội, 2004

2. Lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh (1930-2005), Nxb Văn hóa Thông tin-Hà Nội 2013

3. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb Văn học-Hà Nội, 2016

4. Thái Kim Đỉnh, Làng cổ Hà Tĩnh, xuất bản năm 2007

5. Lê Bá Hạnh, “Tục thờ thần Rắn làm thành hoàng làng”, Báo Hà Tĩnh online, ngày 07/02/2013

6. Minh Xuân, “Tam Lang Long vương-những người con theo cha Lạc Long Quân xuống biển”, trang Website: congdankhuyenhoc.vn trong Kết nối xưa và nay, ngày 25/7/2022.

7. Sắc thần ở đền Trửa của các triều đại ban cho thần Tam Lang.

8. Bùi Quán, tài liệu “Hồi ký” viết tay

9.  Đi điền dã đến xem trực tiếp với các ngôi đền, những hiện vật liên quan trong khu vực và phỏng vấn nhiều thành viên cao niên và những người liên quan đến những ngôi đền trong thôn.

 

Bài và ảnh Nguyễn Bá Hành

(Đăng này 08/6/2024)

Chia sẻ:
Video
Copyrights © 2018 DÒNG HỌ NGUYỄN BÁ THÔN QUANG CHIÊM. All rights reserved.
Đang online: 258   |   Tổng truy cập: 2078633
Zalo