QUANG THỤC HOÀNG THÁI HẬU NGÔ THỊ NGỌC DAO
Ngô Thị Ngọc Dao (1420 - 1496) còn gọi là Quang thục Hoàng Thái hậu là mẹ đẻ của vua Lê Thánh Tông. Bà Ngô Thị Ngọc Dao là người có công lớn với 3 vị hoàng đế triều Lê. Đặc biệt, bà là người có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, nhân cách, công đức và sự nghiệp của vua Lê Thánh Tông để 38 năm trị vì của vị vua này, nước Đại Việt bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ, cực thịnh.
Vua Lê Thái Tông lúc mới 15, 16 tuổi đã có đến 5 người vợ chính thức được sắc phong, đó là các bà: Dương Thị Bí, Nguyễn Thị Anh, Ngô Thị Ngọc Dao, Lê Ngọc Dao, Lê Nhật Lệ. Điều đặc biệt là mỗi một người vợ của vua Lê Thái Tông đều có một số phận hết sức đặc biệt gắn liền với những thăng trầm và biến đổi của thời cuộc.
Quang thục Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao có một vị trí đặc biệt trong lịch sử triều Lê. Bà là vợ vua Lê Thái Tông, mẹ vua Lê Thánh Tông và là bà nội vua Lê Hiến Tông - ba vị vua kế thừa và phát triển thành công nhất sự nghiệp xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền theo hướng Nho giáo của triều Lê, khiến cho thời Lê sơ trở thành thời kỳ thịnh trị nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam.
Bà sinh năm Canh Tý 1420, nguyên quán ở xã Đồng Phang, huyện Yên Định, Thanh Hóa. Họ Ngô của bà vốn là một dòng họ lớn ở thời Trần, sau nhờ có công giúp Lê Lợi trong kháng chiến đánh đuổi quân Minh mà trở thành công thần nhà Lê. Bà là con gái thứ ba của quan Bình Ngô Khai quốc đệ nhất công thần Bàng Khê hầu Ngô Từ. Mẹ bà họ Đinh ở Thanh Hóa, tên Đinh Ngọc Kế. Bà ngoại bà là con gái tôn thất nhà Trần, hậu duệ của Tá Thánh Thái sư Chiên Văn vương Trần Nhật Duật.
Ngô Thị Ngọc Dao cách mộ bà khoảng 100 m về phía Tây.
Năm 1436, bà 16 tuổi, bấy giờ chị ruột của bà là Ngọc Viên, nguyên là cung nhân của Thái tổ Lê Lợi còn đang ở trong cung. Bà vào cung chơi với chị, được vua Lê Thái Tông để ý cho giữ lại làm cung nhân.
Tháng 12 năm Đinh Tỵ 1437 xảy ra vụ án của Huệ phi Nhật Lệ. Cung nhân Ngô Thị Ngọc Dao bị ngờ là dính líu vào vụ án, có cơ nguy đến tính mạng. Nguyễn Trãi bảo Nguyễn Thị Lộ can gián, Nguyễn Thị Lộ khuyên nhà vua không nên nghe lời xúc xiểm không đâu mà làm một việc quá ư thất đức. Nhà vua nghe lời Thị Lộ, cho Ngọc Dao được ra ở chùa Huy Văn trong kinh thành Đông Kinh (nay là chùa Dục Khánh, ngõ Văn Chương, phố Tôn Đức Thắng, Hà Nội).
Không bao lâu bà lại được đưa trở về cung và tháng 6 năm Canh Thân 1440 được phong là Tiệp dư, cho ở cung Khánh Phương vốn là cung cũ của Huệ phi Nhật Lệ. Cuối năm này bà sinh con gái đầu lòng là Ngọc Phương tức Thao Quốc trưởng công chúa, con gái thứ 5 của vua Lê Thái Tông. Hai năm sau, vào ngày 20/7/1442, bà sinh hoàng tử Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau này). Từ đó bà được vua Lê Thái Tông rất sủng ái.
Cuối tháng 7 năm 1442, vua Lê Thái Tông đi tuần phía Đông, đầu tháng tám đến Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày mùng 4 tháng 8 vua về đến trại Vải Lệ Chi Viên, co Nguyễn Thị Lộ theo hầu. Sử sách chép rằng: "Vua thức suốt đêm hôm đó với Nguyễn Thị Lộ rồi qua đời" trong khi sách "Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục" ghi thêm rằng: "Vua có ở với bà Thị Lộ nhưng cùng lúc đó bị sốt rét nên qua đời".
Triều đình quy tội cho Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi giết vua và tru di tam tộc. Đây được xem là nghi án lớn trong lịch sử. Như vậy, vua Lê Thánh Tông lên ngôi được 9 năm, hưởng dương 20 tuổi. Vua Lê Nhân Tông nối ngôi khi mới 3 tuổi, Tuyên từ Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính.
Năm 1445, hoàng tử Tư Thành 4 tuổi được Thái hậu Nguyễn Thị Anh phong làm phiên vương ở đất Bình Nguyên gọi là Bình Nguyên vương, dựng phủ đệ ở phía tây hoàng thành. Bà Ngọc Dao được thăng làm Sung Viên cho ra phụng sự nhà Thái miếu.
Như vậy, cho đến năm 1460, gần 15 năm hai mẹ con bà Ngọc Dao sống bên ngoài hoàng cung. Hoàng tử Tư Thành hàng ngày cùng các vương tử khác vào cung học tập, bà Ngọc Dao trông coi việc hương khói cho nhà Thái miếu.
Năm 1459, Lạng Sơn vương Nghi Dân gây biến, vua Lê Nhân Tông và Tuyên từ Thái hậu Nguyễn Thị Anh đều bị hại. Năm 1460, các quan đại thần trong triều dẹp xong loạn Nghi Dân, xét thấy Bình Nguyên vương Lê Tư Thành thiên tư sáng suốt, khí lược hùng tài hơn hẳn các thân vương khác nên cùng nhau phò tá lên ngôi, tức vua Lê Thánh Tông.
Sau khi con trai lên ngôi, vào tháng 6 năm đó, bà Ngọc Dao được dâng sách ngọc tôn làm Hoàng thái hậu, sống trong điện Thừa Hoa. Khi đó bà 39 tuổi. Từ đó suốt 37 năm, bà Ngô Thị Ngọc Dao giữ ngôi Thái hậu, là bậc mẫu nghi thiên hạ.
Bà là người có tư chất cao quý thuần hòa, thông minh mẫn tiệp, lại được sinh ra trong một cự tộc, được hưởng một nền giáo dục theo chuẩn mực lễ giáo Nho gia nên có lối sống hết sức mẫu mực. Tuy ở ngôi cao quý nhưng bà không sống xa hoa, luôn luôn cần kiệm.
Các việc nữ công nữ tắc như may vá thêu thùa, cỗ bàn cơm rượu bà đều rất khéo léo, thường tự tay làm. Bà cẩn thận kỹ càng từ nét mặt dáng đi, xiêm áo luôn chỉnh tề, đối xử với mọi người luôn giữ vẻ ôn hòa.
Để khuyến khích Nho phong, bà thường chuyên cần tuân thủ lễ pháp. Ở ngôi thái hậu nhưng bà không bao giờ cậy thế để tham dự việc triều chính. Bà luôn cẩn trọng trong các nghi lễ, nghiêm trang cung kính nơi tông miếu. Mỗi khi các nơi đưa của ngon vật lạ đến dâng tiến, bà đều cho lệnh phải dâng cúng trước rồi mới tiến cho vua dùng.
Bà tuy nghiêm khắc nhưng thường thương xót chu cấp cho người nghèo. Khi Thiếu phủ cung cấp vàng lụa, bà đều đem ban cho mọi người. Từ con cháu đến kẻ hầu người hạ ai cũng nhận được sự thương mến của bà. Vì vậy ở trong cung, mọi người đều tôn gọi bà là “Phật sống”.
Vua Lê Thánh Tông mỗi khi gặp việc khó nghĩ thường tìm đến nhờ mẹ chỉ bảo. Không chỉ với vua, đối với các con cháu trong hoàng tộc bà đều quan tâm chăm sóc dạy bảo chu đáo. Riêng với thái tử Lê Tranh (vua Lê Hiến Tông sau này), bà có một tình cảm đặc biệt. Biết thái tử sẽ là người gánh vác trọng trách cai trị đất nước, Thái hậu gần gũi thái tử không rời, chăm lo dạy bảo chu đáo.
Không chỉ thông minh mẫn tiệp, Ngô Thị Ngọc Dao còn là một phụ nữ rất xinh đẹp, một vẻ đẹp giản dị, nền nã. Khi tuổi tác đã cao, lúc nhàn rỗi bà vẫn làm thơ, đem kinh sách sử truyện ra dạy dỗ con cháu.
Văn bia tại lăng mộ bà cho biết một điều đặc biệt lạ ở bà là khi bà đã ngoài 70 tuổi mà tóc không bạc, răng không rụng, mắt không mờ, dáng mạo không suy, phong thái trẻ trung chỉ như người chừng 40 tuổi.
Tư chất cũng như trí tuệ và đức độ của Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao khiến từ cung đình cho đến dân gian ai cũng ngưỡng mộ. Khi bà qua đời, quần thần làm hàng trăm bài thơ ai điếu, hiện những bài thơ này vẫn còn được lưu lại trên bia tại lăng mộ bà. Sự thương tiếc đối với một vương hậu như trường hợp của bà rất hiếm có trong lịch sử.
Ngô Thị Ngọc Dao được các đại thần đương triều đánh giá rất cao và cho rằng bà là người có công lớn với xã tắc. Đặc biệt, bà là người có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời và sự nghiệp của vua Lê Thánh Tông, nuôi dạy đức vua từ nhỏ đến lúc trưởng thành, luôn kề vai sát cánh cùng đức vua trong quá trình cai trị đất nước, giáo hóa nhân dân.
Năm 1496, bà lâm bệnh nặng rồi mất ở điện Thừa Hoa, thọ 76 tuổi, được đưa về an táng ở Lam Sơn theo về Hựu lăng (lăng vua Lê Thái Tông). Bà chỉ qua đời trước vua Lê Thánh Tông 10 tháng. Như vậy cả cuộc đời của vị hoàng đế anh minh này luôn có sự quan tâm của người mẹ đáng kính của mình.
Với những gì được sử sách ghi nhận, Quang thục Hoàng thái hậu thật xứng đáng là người đứng đầu trong các vương hậu của nước Đại Việt.
Bia Khôn nguyên chí đức hay còn gọi bia Quang thục Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao là một trong 12 Bảo vật quốc gia được Thủ tướng ký quyết định công nhận năm 2014, là tấm bia tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc, giá trị văn hóa, lịch sử được lưu giữ đến ngày nay. Cùng với bia Vĩnh Lăng (Lam Sơn Vĩnh Lăng Bi), hai bảo vật này góp phần tạo nên giá trị đặc biệt cho Khu di tích lịch sử Lam Kinh.
dù đã hơn 500 năm tuổi nhưng còn khá nguyên vẹn.
Đến nay, về nơi mất và năm mất của bà Ngô Thị Ngọc Dao còn có hai nhóm tài liệu có những thông tin rất khác nhau:
- Nhóm thứ nhất, gồm các thư tịch cổ như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Đại Việt thông sử”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”... đều cho rằng bà mất vào ngày 26 tháng 2 (nhuận) năm Bính Thìn (1496), thọ 75 tuổi.
Riêng “Đại Việt sử ký toàn thư” còn ghi rõ Thái hậu Ngọc Dao mất vào giờ Hợi, tức khoảng 21 giờ đến 23 giờ tối, vì bị cảm nặng sau khi về bái yết Lam Kinh (Thanh Hóa)
Còn “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Đại Việt thông sử” thì chép bà mất vì bệnh kiết lỵ. Về nơi mất, những sách này đều viết bà mất ở điện Thừa Hoa, tức nơi ở của bà ở kinh đô Thăng Long.
- Nhóm tài liệu thứ hai, gồm 25 đạo sắc phong, gia phả họ Phan hiện còn lưu giữ ở xã Đức Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh thì đều ghi Thái hậu Ngọc Dao mất ngày 25 tháng 3 năm Tân Mão (1471), khi mới 50 tuổi.
Nhà nghiên cứu công bố thông tin này cho biết: “Theo lời kể của người dân địa phương, thì vào năm 1471, sau khi cùng con là vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, về dọc đường, bị lâm bệnh nặng và mất tại cửa Sót (nay thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh).
Nhà vua đành phải mai táng mẹ tại trang Đồng Cần, xã Quang Chiêm (nay thuộc xã Đức Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh)
Chẳng bao lâu sau, vua sai người chọn đất, cải táng hài cốt của bà về vị trí cũng gần đó. Trước khi trở về Thăng Long, vua Lê còn cấp 100 công đất cho cậu ruột (em Thái hậu Ngọc Dao) cùng năm người họ Phan, vốn là bà con bên ngoại của Thái hậu, ở lại canh tác, lấy hoa lợi, lo việc tế tự và trông coi mộ phần.
Kể từ đó, ở trang Đồng Cần mới có một chi họ Phan, mà nguồn gốc ở Thanh Hóa. Người dân ở trang Đồng Cần còn khẳng định rằng: Sát bên cạnh đền thờ, có một ngôi mộ cổ. Đấy mới thật là mộ của Thái hậu Ngọc Dao”
Những tranh luận về lịch sử cho đến nay vẫn chưa có lời giải và đòi hỏi thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên, về đánh giá chung, trong số những người vợ của vua Lê Thái Tông thì Thái hậu Ngọc Dao là người đã hết lòng cùng con chăm lo cho giang sơn xã tắc, là một trong những chỗ dựa tin cậy của Hoàng đế Lê Thánh Tông.
Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” còn ghi rõ rằng chính bà là người đã không quản đường xá dặm dài, cùng Lê Thánh Tông tiến hành cuộc tấn công vào đất Chiêm Thành, cuối năm 1470, đầu năm 1471.
Người dân ở trang Đồng Cần còn khẳng định rằng: Sát bên cạnh đền thờ, có một ngôi mộ cổ. Đấy mới thật là mộ của Thái hậu Ngọc Dao.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:
"Tài liệu nói Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao mất năm 1471 là không chính xác. Thông tin ấy phát ra từ đền Đồng Cần (xã Đức Thịnh huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh) trong tờ trình xin xếp hạng Di tích cho ngôi đền đó và đã được chấp thuận tại Quyết định số 45/1998-QĐBVHTT ngày 24/1/1998. Căn cứ vào thần tích nêu trong tờ trình nói trên thì đền này không thờ bà Ngô Thị Ngọc Dao mà thờ em bà Dao là Ngô Thị Ngọc Đức. Theo bản phả Ngô gia thế biên do Phan Hữu Lập biên soạn vào giữa TK18, thì bà Ngô Thị Ngọc Đức cùng chồng là Minh Quận công Bùi Ban, năm 1446 cùng chồng theo quân đi đánh Chiêm Thành và bà đã hi sinh trong trận đánh đó, mộ tại xứ động Ông Bột (翁孛). Không rõ Đồng Cần có phải là động Ông Bột xưa kia không?
xã Đức Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh do Bộ VHTT cấp 1998
Vì sao có sự khác biệt này, phải chờ các nhà sử học nghiên cứu thêm.
Admin sưu tầm.
- VỊ VUA ĐÔNG CON, NHIỀU CHÁU, LẮM VỢ (Thứ ba)
- NGHỊCH LÝ CUỘC ĐỜI (Thứ sáu)
- HOẠN THƯ VÀ THÚY KIỀU (Thứ bảy)
- DÙNG ÂM HÁN VIỆT TRONG VIỆC HỌ (Thứ năm)
- VĂN HÓA DÒNG HỌ (Chủ nhật)
- THẦN CAO SƠN CAO CÁC (Thứ tư)
- TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM (Thứ bảy)
- TÌM HIỂU VỀ SẮC PHONG THỜI XƯA (Thứ năm)
- VỤ ÁN LỆ CHI VIÊN (Thứ năm)
- ĐỀN ĐỒNG CẦN THỜ BÀ NGÔ THỊ NGỌC DAO HAY THỜ AI? (Thứ bảy)
- MÙA HOA HƯỚNG DƯƠNG Ở NGHĨA ĐÀN, NGHỆ AN
- HỘI THƠ NGHỆ TĨNH TẠI TP HCM (23/4/2024). Nhân Ngày thơ VN 2024
- TÌM EM CÂU VÍ SÔNG LAM
- HÀ TĨNH QUÊ ƠI A Páo
- THƠ: SÔNG LAM của TRẦN MẠNH HẢO
- Một Mùa Xuân Nho Nhỏ
- Việt Nam gia phả
- Hưỡng dẫn làm gia phả
- Tuổi trẻ.Vn
- Bóng đá trực tiếp
- Thiết kế web Nina
- honguyenvietnam.org
- Thanh niên
- Lịch vạn niên - Ngày đẹp
- Họ Nguyễn Việt Nam
- Chúng Ta.com
- Vnexpress.net
- CLB Arsenal



