ĐỀN CÔI LÀNG QUANG CHIÊM
Banner mobi
LOGO Dòng họ
Từ đường 2020
Đền Côi 4.2020
Bình minh Quê hương
Cổng Từ đường, tháng Giêng 2019
Quang Chiêm thôn Nguyễn Bá tộc
Thắp hương cho Mộ tổ ( Tháng Giêng năm 2007)
Từ đường 2007
Cuốn Gia phả, 2020
Cầu Đò Trai
Các ông bà đời thứ 11 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007.
Cổng Từ Đường
Hoa Sen
Các cháu đời thứ 12 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007
Các cháu đời thứ 13 về dâng hương tại Từ đường, Tháng Giêng 2007
Rằm tháng Giêng 2019
Bến Đình
Hoa Sen
ĐỀN CÔI QUANG TIẾN, 2019
Chào mừng bạn ghé thăm website chính thức của dòng họ Nguyễn Bá thôn Quang Chiêm
Thứ sáu : 2024-07-19 13:29:15
ĐỀN CÔI LÀNG QUANG CHIÊM

                 ĐỀN CÔI LÀNG QUANG CHIÊM

 

 

Đền Côi được xây dựng cụ thể vào năm nào đến nay vẫn chưa rõ. Theo Lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh (1930-2005), (Nxb VHTT-2013, tr.20) có ghi: “Đền được xây dựng tại thôn Quang Chiêm vào khoảng năm 1754”, thời gian này thuộc Triều đại Lê Hiển Tông với niên hiệu là Cảnh Hưng (1740-1786). Ngôi đền tọa lạc trên đất thôn Quang Chiêm (cũ), nay là Nhà Văn hóa thôn Quang Tiến, xã Thanh Bình Thịnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Đền nhìn về hướng Đông, phía trước có con đường kết nối hai xóm 1 và 2; cách đó 500 mét là con sông nhà Lê cuộn mình len trong xóm làng của hai xã Đức Thịnh và Thái Yên (cũ); phía Tây là cánh đồng mênh mông với hai mùa lúa đều đặn, sau này một số ngôi nhà và sân bóng mọc lên phía gần Đền, gần đây, phía xa hơn là con đường cao tốc Bắc-Nam chạy qua cánh đồng, và cái giếng nước từ bao đời nay vẫn còn đó; phía Nam, cạnh con đường liên thôn nay đã bê tông hóa chạy từ đầu đến cuối xã và bên cạnh là xóm 1 của thôn; phía Bắc, cách ruộng lúa và con hói nhỏ là xóm 2 (còn gọi là xóm Đền Côi). Diện tích khuôn viên của Đền rộng khoảng 2 ha, vuông vắn. Một quần thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà ngói gỗ lim chắc chắn xếp thành hình chữ U rất đẹp và uy nghi. Tứ bề cây cối vươn cao xanh tươi bốn mùa, có một cổng chính hướng Đông và một cổng phụ hướng Nam. Cổng chính có 2 con nghê ngự trị phía trên cột cổng, có người đã lấy 2 con nghê về làm cột trụ để bắc cầu xuống hói giặt rửa; khả năng 2 con nghê vẫn còn nằm sâu dưới con hói ở xóm Đền Côi.

 

Ngôi Đền thờ vị Thần Cao Các Đại vương thượng đẳng thần. Cụ thể Cao Các là ai, sơn thần hay nhân thần vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Wikipedia tiếng Việt, có đoạn viết: “Theo Ngọc phả Đại Vương tôn vị trung thần triều đình; Cao Các và Cao Sơn là hai anh em sinh đôi, sinh ngày 06 tháng 01 năm 983 ở làng Cao Xá, huyện Thọ Xuân, châu Ái (nay thuộc Thanh Hóa)… Cao Các là một vị tướng nhà Đinh, có công giúp Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp loạn 12 sứ quân, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt trong lịch sử Việt Nam. Khi làm quan trong triều đình Hoa Lư, Cao Các tiếp tục lập công đánh dẹp Chiêm Thành và giúp nhân dân những vùng đất đi qua ổn định cuộc sống nên ông được nhiều nơi ở các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,... lập đền thờ phụng”. Và “Việc tôn thờ Cao Các ở nhiều nơi có sự hòa nhập cùng tín ngưỡng thờ thần núi, trở thành hiện tượng phổ biến ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, Việt Nam. Khi về già Cao Các thường ngao du ở vùng đất Hoan Châu, một hôm ông đến núi Bằng Trình, huyện Thanh Nguyên, Nghệ An thì lâm bệnh mất đột ngột”. Không rõ về thời gian mất ngày tháng năm nào.

 

Trong cuốn “Địa chí văn hóa Hưng Nguyên”, (Nxb KHXH-2009, tr.497, 498) do PGS Ninh Viết Giao (Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian) chủ biên: “Theo thần tích làng Hiếu Hạp, cả nước ta có 2.017 nơi thờ phụng thần Cao Sơn, 1.519 nơi thờ Cao Các”. Trong phần “Phụ lục III: Đình - Đền - Chùa - Nhà thờ”, do Thái Kim Đỉnh chủ biên của cuốn Địa chí Huyện Đức Thọ, Nxb Lao Động - Hà Nội, 2004: Thống kê chưa thật đầy đủ nhưng cho thấy, huyện Đức Thọ có 137 ngôi đền, trong đó có 13 ngôi đền thờ thần Cao Các (Tr.613-623).

 

Đến nay, còn có nhiều giả thiết được đặt ra về việc thờ thần Cao Các, Cao Sơn ở nhiều nơi. Thần hiệu Cao Các vẫn chưa được minh định: Vị thần đó là ai, là  2 hay 1 nhân vật; là sơn thần hay nhân thần?...

 

Qua nghiên cứu di sản Hán - Nôm của nhóm tác giả Thái Huy Bích trong bài “Thần Cao Sơn Cao Các”, đăng trên Wesite: khxhnvnghean.gov.vn, ngày 09/9/2015 (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An) cho rằng, “có thể Cao Các và Cao Sơn là một vị thần. Vị thần đó đã được vua các triều đại ban sắc phong cho phép dân ta thờ phụng”. Và kết luận của PGS Ninh Viết Giao rằng, Cao Các Cao sơn là thần núi. Ngoài ra, còn có một số ý kiến khác cần có một cuộc hội thảo sâu rộng mới có được sự thống nhất.

 

Nay theo xưa thờ khắp đất nước, tùy theo sự hiển ứng, hoặc có thể chống được tại họa lớn thì thờ, nổi tiếng linh thiêng khắp nơi thì nghe theo vậy. Lấy nghi truyền nghi. Dù sao thì đây là một vị thần có công “phù hộ cho nước, che chở cho dân” trong công cuộc phòng, chống thiên tai, địch họa và công đức cao đẹp ấy đã được Triều đại Cảnh Hưng năm thứ 44, ngày 26/7/1783 khẳng định trong ban sắc.

 

Trở lại với ngôi đền Côi. Trước đây, Đền Côi là một ngôi đền lớn, uy nghi nhất xã; là một ngôi đền linh thiêng và mang nhiều nét kiến trúc đẹp, cổ kính, các chi tiết được chạm trổ tinh xảo. Đền có cả thượng điện và hạ điện. Trong Đền, thượng điện là nơi đặt tượng, ngai vàng, bài vị của thần, kế đó là bái đường nơi tế tự. Đồ thờ đều có các bộ long ngai, rương đựng sắc phong và thần tích (Ngọc Phả), ngoài ra còn có các đồ thờ khác, bộ ngũ sự, đài, rượu, quả, các đồ nghi tượng như: loan giá, long kiệu, long đình, cờ quạt, tàn lọng, bát bảo, gươm đao, chiêng trống… hệ thống hoành phi câu đối sơn son thếp vàng, sơn mài, khảm trai có giá trị sắc sảo, linh thiêng. Nơi đây ẩn chứa nhiều dấu tích lịch sử đáng trân trọng, đi vào đời sống tinh thần của người dân địa phương và khách thập phương với lòng tôn kính, sùng bái trân trọng.

 

Ngoài việc thờ Thần, đây còn là nơi sinh hoạt văn hóa của dân làng. Đền Côi đã trở thành địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh của người dân địa phương từ bao đời nay; là biểu tượng cao mang tính văn hóa cộng đồng của làng xã.

 

Thuở nhỏ, tôi đã từng đi xem đoàn thanh niên tổ chức văn nghệ ở Đền Côi, trên nền đất cao cạnh hạ điện. Lúc đó, Đền còn hạ điện, và các dãy nhà ngang 2 bên, sân lát gạch rộng rãi, nhưng đa số đồ tế khí đã chuyển sang đền Thái Yên, và cha tôi có tham gia độc diễn vở tuồng trong bộ đồ đủ các màu sắc, tay cầm đạo cụ múa trong nhịp trống, kèn rộn ràng. Đến tận bây giờ, tôi vẫn nghe văng vẳng chất giọng hùng tráng, ấm áp của Người “Như ta đây là đất Quang Chiêm quê mẹ…”. Rất nhiều đêm tôi vẫn mơ thấy ngôi Đền Côi còn nguyên vẹn, hai cây muỗm to cao trước cổng chính, cây duối to phải mấy người ôm ở ngoài cổng phụ, rồi ao đền, nhà thúc mầm, giếng đền còn đó; phía trong khuôn viên là những ngôi nhà bằng gỗ lim lợp ngói hai lớp âm dương tuy hơi thấp nhưng rất chắc chắn… và nhớ những ngày lễ hội cúng tế của người dân địa phương.

 

Cũng nghe truyền ngôn từ những người cao niên rằng, ngôi đền này thôn giao cho dòng họ Nguyễn Bá và họ Đoàn trong thôn đảm nhiệm việc lễ tế và trông coi. Còn các dòng họ khác như họ Đinh, họ Lê phụ trách đền Trửa… Vẫn nhớ, “Làng ta tứ giáp, ngũ lân”, tức là làng Quang Chiêm xưa có 4 xóm và 5 ngôi đền, từ xóm 1 cho đến xóm 4, và đền Côi, đền Trửa, đền Ngoài, đền Thánh mẫu và đền Ống.

 

Ngày 01 tháng 5 âm lịch hàng năm, là ngày Kỳ Phúc của người dân nơi đây (một lễ tế phổ biến ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ). Dân làng thôn Quang Chiêm cùng Hội Tư võ tổ chức lễ tế rất long trọng và trang nghiêm. Dân làng giết mổ bò lợn gà dâng tế thần linh cầu nguyện cho mọi người dân yên ổn làm ăn, thoát khỏi hoạn nạn, cuộc sống ấm no, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cùng đồng tâm hợp lực, đoàn kết cộng đồng, dân làng được bình an.

 

Chủ tế là Cụ Nguyễn Bá Hồ (hay Nguyễn Ngọc Hồ), thuộc đời thứ 10, chi họ thứ 2, phái họ thứ 4 dòng họ Nguyễn Bá thôn Quang Chiêm; là quan tam phẩm (Quản cơ hoặc Cai cơ), một chức quan võ thời nhà Nguyễn đứng đầu một cơ (gồm từ 200 - 3.000 lính) tương đương với tiểu đoàn trưởng hay trung đoàn trưởng ngày nay. Dân làng hồi ấy thường gọi là ông quan quản (Trích Gia phả dòng họ Nguyễn Bá thôn Quang Chiêm, 2020).

 

Chủ tế của những ngôi đền thời trước ở trong vùng thường là những người có học vị hoặc có chức sắc cao nhất trong làng đảm nhận. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, thế vận đổi thay, ngôi đền vẫn trường tồn trong lòng dân nơi đây, trở thành di tích lịch sử - văn hóa trong tiềm thức bao thế hệ người dân thôn Quang Chiêm.

 

Theo tài liệu ghi chép của cụ Bùi Quán, sinh năm 1905 (Bí thư chi bộ Thái Yên đầu tiên khi thành lập, 01/02/1931): Tháng 9 năm 1959, Đảng và chính quyền xã có chủ trương xóa bỏ 18 chùa và đền thuộc xã Đức Thịnh để xây dựng trường phổ thông cấp 1 xã…

 

Chúng tôi cho rằng: Đền Côi cũng thuộc trong số đó, bị phá dỡ hoàn toàn, phần lớn ngôi Đền và đồ tế khí được chuyển sang Đền Thái Yên, làm nhà kho, trường học, số còn lại một số người đem đốt phá... Kể từ đó việc thờ cúng bị sao nhãng, bỏ mặc. Về thời gian tháo dỡ ngôi Đền cụ thể chưa thấy tài liệu nào ghi lại.

 

Chúng tôi có vài lần sang thăm ngôi Đền Thái Yên, có cả thượng điện và hạ điện; ở đó có rất nhiều đồ tế khí sắp xếp thành ba dãy san sát nhau, hỏi thủ từ và những người già gần đấy, không ai biết được các đồ tế khí nào là của đền Thái Yên và cái những nào là của các đền nơi khác đưa đến (khi chủ trương hợp tự).

 

Hiện nay, thôn Quang Tiến còn lưu giữ 10 sắc phong thuộc các triều đại cho đền Côi:

Triều Cảnh Hưng năm thứ 44, tháng 7 ngày 26 (1783), thời nhà Lê;

Triều Cảnh Thịnh năm thứ 4, tháng 5 ngày 21 (1795), thời Tây Sơn;

Triều Minh Mệnh năm thứ 5, tháng 9 ngày 19 (1824), thời nhà Nguyễn;

Triều Thiệu Trị năm thứ 3, tháng 11 ngày 04 (1843), thời nhà Nguyễn;

Triều Thiệu Trị năm thứ 3, tháng 12 ngày 02 (1843), thời nhà Nguyễn;

Triều Tự Đức năm thứ 7, tháng 7 ngày 13 (1854), thời nhà Nguyễn;

Triều Tự Đức năm thứ 33, tháng 11 ngày 24 (1880), thời nhà Nguyễn;

Triều Đồng Khánh năm thứ 2, tháng 7 ngày 01 (1887), thời nhà Nguyễn;

Triều Duy Tân năm thứ 3, tháng 8 ngày 11 (1909), thời nhà Nguyễn;

Triều Khải Định năm thứ 9, tháng 7 ngày 25 (1924), thời nhà Nguyễn.

 

10 đạo sắc phong của nhiều đời vua nhằm ghi nhận, ca tụng công lao của thần Cao Các là những di vật đặc biệt có giá trị, tài sản cổ vật duy nhất của Đền còn lưu lại nguyên bản, là cuốn “sử biên niên” ghi chép đầy đủ vị thần thờ phụng trong đền, đồng thời minh chứng cho sự ra đời tồn tại của ngôi đền. Rất lấy làm tiếc là không còn Ngọc Phả (Thần phả) lưu lại nữa.

Trong số 10 sắc phong đó, sắc phong đầu tiên thuộc Triều Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783) như sau:

Sắc phong cho thần Cao Các niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783)

 

Nguyên văn chữ Nho:

 

“敕高閣顯應扶運翊順護國安民濟世豊功偉績大王

英鍾岳瀆祀列江濱聖德有光瞻仰妥西山之赤子神功克相強覺培南越之洪基靈聲在在可徵袞字滔滔何限

為嗣王進封王位臨居正府禮有登秩應加封美字三字可加封

高閣顯應扶運翊順護國安民濟世豊功偉績光大寬弘迪哲勇略剛毅大王故勅

景興四十四年七月二十六日”

 

Dịch nghĩa:

 

“Sắc cho vị thần Cao các Hiển ứng Phù vận Dực thuận Hộ quốc An dân Tế thế Phong công Vĩ tích Đại vương.

Núi non gồm thâu tinh tú, thờ phụng bày biện bến sông. Đức thánh sáng soi, thỏa con đỏ ở Tây Sơn trông mong; thần công rực rỡ, đắp cơ đồ tại Nam Việt lớn lao. Linh thiêng còn đó dễ thấy xem, mỹ tự ban phong sao phải hạn?

Vì Tự vương đăng quang ngôi vương, ngự vào chính phủ, theo lễ có tăng thêm phẩm trật, nên gia phong 3 chữ mỹ tự. Xứng đáng được gia phong là:

Cao các Hiển ứng Phù vận Dực thuận Hộ quốc An dân Tế thế Phong công Vĩ tích Quang đại Khoan hằng Địch triết Dũng lược Cương nghị Đại vương. Cố sắc.

Ngày 26 tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783)”

 

Như vậy ngay từ năm 1783, Đền thờ Thần Cao Các tại thôn Quang Chiêm (cũ) đã được nhà Vua phong cho Thần Cao Các Cương nghị Đại vương.

 

Mỗi sắc phong càng về sau các triều đình thêm một hay vài mỹ tự cho thần Cao Các và chuẩn cho thôn Quang Chiêm xã Quang Chiêm huyện La Sơn phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh phụng thờ Thần như cũ.

 

Sắc phong thứ 10: Sắc phong cho vị Đại vương Đốc hậu Phù hựu Trạc dương Trác vỹ Dực bảo Trung hưng Cao các Cương nghị, niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924).

 

Nguyên văn chữ Nho:

 

“河靜省德壽府羅山縣光瞻社光瞻村從前奉事原贈篤厚扶佑濯洋卓偉翊保中興髙閣剛毅大王上等神謢國庇民稔著靈應節蒙頒給敕封準許奉事肆今正治朕四旬大慶節經攽寳詔覃恩禮隆登秩特準依舊奉事用誌國慶而申祀典欽哉

啟定玖年柒月貮拾伍日”

 

Được dịch nghĩa như sau:

 

 “Sắc cho thôn Quang Chiêm xã Quang Chiêm huyện La Sơn phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh từ trước tới nay thờ phụng vị Thượng đẳng thần vốn được ban mỹ tự là: Đốc hậu Phù hựu Trạc dương Trác vĩ Dực bảo Trung hưng Cao các Cương nghị Đại vương, bảo vệ nước, che chở dân, linh thiêng rõ rệt, đã được ban tặng sắc phong chuẩn cho thờ phụng. Nay gặp đúng đại lễ mừng thọ 40 tuổi của trẫm, nên ra chiếu báu tỏ rõ ơn sâu, lễ long trọng nên tăng thêm phẩm trật. Đặc biệt chuẩn cho phụng thờ như cũ, để nhớ ngày vui của nước mà kéo dài phép thờ tự. Kính thay!

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9.”

 

Qua sắc phong thứ 10 ta thấy: Vị thần Cao Các được phong là Cương nghị Đại vương Thượng đẳng thần và trong các mỹ tự có Trác vĩ. Theo hệ thống phẩm trật và các mỹ tự đời Tự Đức (1850), thì Trác vĩ tương ứng với Thượng đẳng thần và vị thần được thờ là Dương thần.

 

Theo Phan Kế Bính, “Thượng đẳng thần là những thần Danh sơn Đại xuyên, và các bậc Thiên thần như Đổng thiên vương, Sóc thiên vương, Chử đồng tử, Liễu Hạnh… Các vị ấy có sự tích linh dị, mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, cho nên gọi là Thiên thần”.

 

Chúng tôi đã cho phiên âm và dịch nghĩa 10 sắc phong này từ bản gốc ra để cho mọi người đều hiểu và dùng làm tài liệu hồ sơ xin cấp Bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa các cấp cho ngôi Đền.

 

Tóm lại, ngôi đền Côi được xây dựng vào Triều đại Lê Hiển Tông với niên hiệu là Cảnh Hưng (1740-1786), trước năm 1783. Với chủ trương hợp tự, ngôi đền bị tháo dỡ vào nhưng năm 196x. Đền thờ thần Cao Các, xu hướng nghiêng về nhóm Nhiên thần, cụ thể hơn là Thần Núi (Sơn Thần) và là Dương thần. Đây là một ngôi đền lớn, uy nghi nhất xã lúc bấy giờ và rất linh thiêng. Với ngôi Đền này, đã được các triều đại ban cho 10 sắc phong, từ Triều Cảnh Hưng năm thứ 44, tháng 7 ngày 26 (1783), thời nhà Lê cho đến Triều Khải Định năm thứ 9, tháng 7 ngày 25 (1924), thời nhà Nguyễn. Thần Cao Các được các đời vua ca ngợi và ban cho nhiều mỹ tự, các sắc phong về sau lại thêm một hay vài mỹ tự. Thần Cao Các Đại vương Thượng Đẳng thần! Thần có công rất lớn với dân làng “bảo vệ nước, che chở dân, linh thiêng rõ rệt, đã được ban tặng sắc phong chuẩn cho thờ phụng…”. Để đền đáp tri ân công ơn của Thần người dân nơi đây lấy ngày 01/5 Âm lịch hàng năm làm ngày Lễ tế.

 

Theo ông Đinh Văn Sơn, sau khi nghỉ công tác ở xã (chủ tịch, bí thư) theo chế độ (2005). Ông về làm trưởng thôn cùng với Bí thư thôn Bùi Xuân Trợ, thống nhất triển khai lập miếu thờ thần Cao Các tọa lạc tại vị trí cũ của ngôi đền ngày xưa, khôi phục lại nếp văn hóa tâm linh. Đồng thời tổ chức cho người dân thôn Quang Tiến tế lễ thần Cao Các Đại vương Thượng đẳng thần theo tập tục truyền thống của địa phương vào ngày 01/5 âm lịch hàng năm.

 

Cũng thật vinh dự và may mắn cho gia đình chúng tôi thời gian đó, khi được lãnh đạo, chính quyền cũng như bà con thôn Quang Tiến đón nhận món quà nhỏ của người con xa quê và chưng thờ tại ngôi miếu cặp linh vật sư tử bằng đá màu đen, được đặt từ Làng đá mỹ nghệ Non Nước, phường Hải Hòa, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Linh vật sư tử được thờ tượng trưng cho sự uy quyền, vững chãi và sang trọng. Đồng thời là vật phẩm mang ý nghĩa phong thủy đem lại thịnh vượng, trừ tà, cân bằng âm dương, ngự trị tài vận đúng với phẩm chất vốn có của nó.

 

Thể theo nguyện vọng của người dân thôn Quang Tiến nhiều đời nay, ngày 07/10/2019 (ngày 09/9/Kỷ Hợi), triển khai Nghị quyết của Chi bộ thôn, Ban Mặt trận tổ chức Lễ động thổ xây dựng lại ngôi đền trên nền đất cũ; Ban Vận động thôn đã viết “Thư ngõ kêu gọi đóng góp xây dựng Đền Côi” gửi đến tất cả những người con quê hương (cả dâu rể) đang sinh sống, học tập, công tác trên mọi miền Tổ quốc và đang ở nước ngoài đóng góp sức người, sức của tái kiến thiết, phục dựng Đền Côi.

 

Sau 3 tháng, với sự nổ lực của cán bộ và nhân dân thôn Quang Tiến, xã Thanh Bình Thịnh cũng như các con cháu gần xa, ngôi Đền đã hoàn thành giai đoạn 1, phần Thượng điện. Ngày 06 tháng 01 năm 2020 (12/12/Kỷ Hợi) dân làng thôn Quang Tiến tổ chức Lễ rước các vị thần linh vào ngôi đền mới trong niềm vui hân hoan, thỏa một phần ước nguyện của bao thế hệ cán bộ nhân dân thôn Quang Tiến, xã Đức Thịnh (cũ), huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

 

Ngày 21/6/2020 (nhằm ngày 01/5/Canh Tý niên), Ban Mặt trận thôn tổ chức Lễ khánh thành ngôi Đền đồng thời với Lễ tế Thần Cao Các hàng năm trong không khí trang nghiêm, hoan hỷ, đầm ấm và trân trọng.

 

Có được kết quả này là nhờ sự quan tâm của Đảng ủy, chính quyền xã nhà, Chi bộ, Ban Mặt trận, Ban vận động, Ban xây dựng của thôn Quang Tiến và đặc biệt là bà con nhân dân trong thôn và con em xa quê cùng tất cả mọi người đã đóng góp vật chất cũng như tinh thần để xây dựng ngôi Đền khang trang nhằm phát huy được giá trị di sản văn hóa, nghệ thuật đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng của người dân.

 

Đây là một việc làm hết sức ý nghĩa và giá trị, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” nhằm tri ân các vị tiền bối và nâng cao đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của con dân thôn Quang Tiến; dìu dắt con cháu chúng ta vững bước tiến vào giai đoạn cách mạng mới mang tính hội nhập.

 

Từ sau khi có Miếu thờ, dân làng Quang Tiến dưới sự chủ trì của Ban Mặt trận thôn tiếp tục phục hồi lại truyền thống tế lễ xưa; các cụm dân cư (gồm 15 cụm) làm mâm xôi gà, rượu nước, hương hoa quả… dâng lên cúng tế thần linh. Cầu mong Thần linh che chở, mưa thuận gió hòa, sức khỏe dồi dào, an ninh khang thái, gia đạo hưng long, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống và sự nghiệp.

 

Chủ tế hiện nay Thôn giao cho Hội người cao tuổi cử người ra chịu trách nhiệm. Thời gian đầu là ông Lê Đình Vinh, sau đến ông Đinh Văn Thành và hiện nay là ông Lê Văn Phán. Thầy cúng là ông Nguyễn Bá Vinh thuộc đời thứ 12 chi họ thứ 2, phái họ thứ 4 họ Nguyễn Bá thôn Quang Chiêm.

 

Những năm gần đây, do việc truyền ngôn không chuẩn mực, nên có một số người cho rằng, ngày 01/5 âm lịch hàng năm là ngày giỗ của Thần Cao Các ở Đền Côi. Đây là thông tin không có cơ sở, thiếu chính xác, vì việc xác định thần Cao Các chưa rõ thần hiệu thì làm sao biết được ngày mất của Thần mà làm giỗ. Với thần Cao Các, ở nước ta có đến 1.519 nơi thờ phụng và mỗi nơi lấy một hay nhiều ngày khác nhau để tế lễ… Thường các địa phương ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ dùng một hay vài ngày nào đó làm ngày Lễ hội Kỳ Phúc để tế lễ thần, thể hiện lòng thành kính tri ân đối với các bậc tiền nhân đã xây dựng, gìn giữ sự bình yên cho bờ cõi và cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

 

Trong cuốn Địa chí huyện Đức Thọ, xuất bản 2004, còn không xác định được đền Côi là đền nào và thờ ai? (trang 616); và “trong khoảng 100 thần hiện ghi chép được, chúng ta thấy đền, miếu ở Đức Thọ thờ các nhóm thần”, trong nhóm nhiên thần thì Cao Sơn, Cao Các thuộc trong phân nhóm Thần Đá, Thần Núi, Thần Cây… (Tr. 444). Vậy, trong “Địa chí huyện Đức Thọ” chỉ nêu Cao Sơn Cao Các thuộc nhiên thần và khả năng là thần Núi (Sơn thần)? Đã là Sơn thần thì nhiều nơi làm Lễ tế chứ không phải làm giỗ Thần vì là vị thần tối linh trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

 

Mặt khác, cạnh ngôi đền có dựng một văn bia được khắc bằng chữ Hán, nhưng phần lớn đã bị phai mờ nên rất khó đọc… Qua quá trình tìm hiểu của chúng tôi về một phần nội dung của văn bia, với 22 sắc phong của các triều đại cho những ngôi đền ở thôn Quang Chiêm và một số ý kiến của người cao tuổi trong thôn (nhất là Cụ ông Đinh Văn Thảo (Cố Hạnh), sinh năm 1929, còn minh mẫn, sinh sống tại xóm 1 thôn Quang Tiến. Cụ Thảo đã nhiều lần cho chúng tôi biết: văn bia đó là của nhà Thánh văn, do Cụ Nguyễn Bá Huân, lúc đó làm chủ nhiệm Hợp tác xã Quang Tiến (xóm 1, 2; năm 1963-1965) chỉ đạo khênh về làm cầu ở góc vườn nhà Cụ Lê Văn Tráng… sau đó các cụ cao tuổi khênh lên Nhà Văn hóa của thôn; Cụ còn kể lý do quá trình di dời văn bia và sự tồn tại cho đến bây giờ; cũng như khái quát một số ý trong văn bia. Văn bia này gắn liền với cuộc đời tuổi thơ của anh em chúng tôi.

 

Chúng tôi cho rằng, văn bia đó của nhà Thánh văn là đúng vì có một mặt ghi “光 瞻 斯 文 碑 記” đó là “Quang Chiêm tư văn bi ký”, dịch nghĩa, bia ghi danh sách tư văn thôn Quang Chiêm. Tư văn là một tổ chức quần chúng, bao gồm những người có học những vị quan văn đã về hưu và những vị chức dịch, sắc mục của làng (thôn)… trùng hợp với mục tiêu thờ phụng của nhà Thánh văn làng do Hội tư văn làng thờ Khổng Tử (kề Đền Trửa). Chúng ta thấy, một nơi thờ Thần Cao Các Đại vương Thượng Đẳng thần, được các triều đại ban sắc tôn vinh; còn một nơi thờ tự, tôn vinh Khổng Tử, người sáng lập ra Nho giáo, “vạn thế sư biểu” (người thầy mẫu mực của muôn đời), và tôn vinh những người có học vị, đỗ đạt, chức sắc trong làng nhằm giáo dục học thuyết nho giáo; động viên con cháu học hành thành đạt. Đặt văn bia ở đây là một sự khập khiễng, thậm chí còn lố bịch, kém văn hóa ở một nơi cho là văn hóa?

 

Còn mặt kia văn bia nghi: “本 村 諸 祀 田 碑 記” đó là “Bản thôn chư tự điền bi ký”; dịch nghĩa là: Bia ghi công đức những người hiến tế đồng ruộng cho ngôi làng này (làng Quang Chiêm). Ruộng này là ruộng để cấy cày rồi thu hoa lợi, sau đó số hoa lợi này chỉ để dành vào việc thờ cúng. Những người này, có công trong việc tạo ra hoa lợi để chi về việc tế tự cho nhà Thánh văn, chứ giúp gì cho ngôi Đền thiêng nơi đây mà chưng thờ trong khuôn viên này. Xét về mặt tâm linh, đây là sự giả dối.

 

Còn nữa, do người chỉ đạo và người thực hiện không biết chữ Hán và giá trị từng mặt văn bia, cho nên đã để mặt quan trọng, có nhiều ý nghĩa mang tính giáo dục văn hóa cao ra phía sau, lại còn bị tôn che khuất. Còn mặt ít quan trọng hơn lại chưng ra phía trước. Một nét văn hóa không tuân theo bất cứ chuẩn mực nào hay gia trị văn hóa cơ bản nào.

 

Văn bia hoàn toàn không liên quan gì đến ngôi Đền Côi. Như vậy, ở cả tiêu đề trên 2 mặt và một số nội dung dịch được trên văn bia không hề có mối liên quan gắn kết gì đến ngôi Đền Côi. Khi chúng tôi nghiên cứu 22 sắc phong của các triều đại cho các ngôi đền ở thôn Quang Chiêm (Đền Côi, Đền Trửa, Đền Ngoài) thấy, việc chưng văn bia này không đúng chỗ, và đảo lộn mặt là một sai lầm lớn, biểu hiện sự thiếu tôn trọng các vị thần được dân làng tôn thờ, cũng như làm sai lệch về lịch sử, tạo ra sự áp đặt dẫn đến hiểu lầm thông tin cho nhiều người đặc biệt là có tội lỗi với các thế hệ mai sau. Giá trị văn hóa Việt cao hay thấp một phần cũng biểu hiện chỗ này.

 

Do vậy, nên trả văn bia đó về đúng nơi sinh ra và phát huy được chức năng của nó. Đây là nét văn hóa của những vùng đất, văn hóa của thôn xã, cũng như việc tôn trọng lịch sử của của xóm làng…; tránh sự hiểu nhầm đáng tiếc xẩy ra lâu nay.

 

Ngoài ra, còn có một tài liệu cho rằng, có một văn bia để lại liên quan đến ngôi Đền Côi?. Chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm vết tích hay truyền ngôn về văn bia đó nhưng đến nay vẫn không thấy gì. Việc này có khả năng là một sự nhầm lẫn nào đó. Rất mong mọi người tạo điều kiện tối đa giúp đỡ để góp thêm tư liệu hoàn chỉnh thêm thông tin về ngôi Đền.

 

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 (09/4/Giáp Thìn), chúng tôi đã mời chuyên gia Hán Nôm về trực tiếp dịch nghĩa tấm văn bia hiện có ở trên, nhưng do thời gian và sự tác động vật lý của con người làm cho tấm bia quá mờ, thậm chí mất hẳn chữ trên mặt bia nên rất khó khăn khi tìm hiểu nội dung, niên đại của văn bia... Chúng tôi đang cố gắng liên hệ với Viện Nghiên cứu Hán Nôm và viện Viễn Đông Bác cổ để tìm lại nguyên văn văn bia này. Nếu được, sau này có thể phục dựng văn bia nhằm phát huy giá trị ý nghĩa của nó.

 

Mặc dù đã phục dựng ngôi Đền mới (Thượng điện) và tổ chức tế lễ hàng năm nhưng chưa thể so sánh với ngôi Đền cũ và các vị tiền bối đã làm, nhưng việc tiếp tục duy trì nét đẹp văn hóa truyền thống đạo lý cao cả “uống nước nhớ nguồn” đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân nơi đây là một sự cố gắng rất lớn về mọi mặt của cả dân làng, và ngày càng được cải tiến phù hợp với nếp nghĩ, lối sống của người dân cũng như chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

 

Hy vọng, một ngày không xa, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chi bộ Đảng, phát huy chức trách của các tổ chức quần chúng (nhất là Ban Mặt trận và Hội người cao tuổi) và bà con thôn Quang Tiến cùng đồng sức, đồng lòng, chăm lo ngôi Đền để có được quyết định của trên về công nhận bằng Di tích Lịch sử - Văn hóa; tiếp tục bổ sung, tôn tạo ngôi Đền ngày càng khang trang, to đẹp hơn. Trước mắt là giải quyết vấn đề tấm văn bia đặt đúng vị trí vốn có của nó để phát huy được ý nghĩa giá trị của văn bia cùng với việc duy trì lễ tế Thần hằng năm - nét đẹp văn hóa từ bao đời nay. Đúng theo quan điểm, chính sách về tôn giáo (và cả tín ngưỡng) của Đảng và Nhà nước.

 

                        Quang Chiêm, ngày 25/5/2024

 

                 Đại tá, Bs.Ck2, TTUT. Nguyễn Bá Hành

 

   Người dịch: Chuyên gia Hán Nôm, Thạc sỹ Trần Mạnh Cường

 

 

Tài liệu tham khảo:

 

1. Lịch sử Đảng bộ xã Đức Thịnh (1930-2005), Nhà Xb văn hóa thông tin-Hà Nội, 2013.

2. Thái Kim Đỉnh, Địa chí huyện Đức Thọ, Nhà XB Lao động-Hà Nội, 2004.

3. Nguyễn Bá Hành, Gia phả dòng Họ Nguyễn Bá thôn Quang Chiêm, 2020.

4. Ninh Viết Giao, Địa chí văn hóa Hưng Nguyên, Nxb KHXH, 2009.

5. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nhà Xb Văn học, 2016.

6. Wikipedia tiếng Việt về Thần Cao Các.

7. Thái Huy Bích, “Thần Cao Sơn Cao Các”, Wesite: khxhnvnghean.gov.vn, ngày 09/9/2015 (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An)

8. Các đời vua, 22 sắc phong của các triều đại ban cho 3 ngôi đền: Đền Côi, Đền Trửa và Đền Ngoài.

9. Tài liệu “Hồi ký” của cụ Bùi Quán, sinh năm 1905, Làng Gia Thịnh (Bí thư chi bộ Thái Yên (đầu tiên) khi thành lập, 01/02/1931.

10. Văn bia hiện còn lưu tại thôn Quang Tiến xã Thanh Bình Thịnh.

11. Đi điền dã đến với các ngôi đền trong khu vực và phỏng vấn nhiều thành viên cao niên và những người liên quan đến những ngôi đền trong thôn.

 

 

Miếu Đền côi
Miếu Đền Côi, 2007. Tấm văn bia nằm cạnh phía ngoài

 

Đền Côi được xây dựng mới
Đền Côi được tái kiến thiết, bên cạnh có chưng văn bia

 

Đền Côi chụp chihs diện
Đền Côi đang từng bước hoàng thành

 

Văn bia
Văn bia hiện tại (Mặt phụ)

 

Nghiên cứu văn bia
Tác giả và chuyên gia Hán Nôm đang nghiên cứu Văn bia

 

Bài và ảnh: Nguyễn Bá Hành

 

Chia sẻ:
Video
Copyrights © 2018 DÒNG HỌ NGUYỄN BÁ THÔN QUANG CHIÊM. All rights reserved.
Đang online: 16   |   Tổng truy cập: 1601176
Zalo